Soạn bài – Viết tập làm văn số 5 – Nghị luận xã hội

Soạn bài Viết tập làm văn số 5 – Nghị luận xã hội trang 33 – 34 SGK ngữ văn lớp 9 tập 2. Để học tốt hơn danh sách các bài tập trong bài Viết tập làm văn số 5 – Nghị luận xã hội, sau đây là hướng dẫn soạn bài và giải bài tập đầy đủ, ngắn gọn và chi tiết nhất.

Hướng dẫn soạn bài – Viết tập làm văn số 5 – Nghị luận xã hội.

I. Đề bài tham khảo

Giải đề 1 (Trang 33 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Bác Hồ là lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của em về Người.

Trả lời:

I. Mở bài:

– Giới thiệu về Bác Hồ với những vinh danh:

II. Thân bài:

1. Giới thiệu tóm tắt về cuộc đời, sự nghiệp của Bác:

– Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969) sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước ở vùng quê nghèo xứ Nghệ – nơi có truyền thống anh dũng chống ngoại xâm.

– Lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, Bác đã sớm nhận ra sự lầm than, đau thương của nhân dân, sự mất chủ quyền của đất nước dưới ách đô hộ của thực dân Pháp.

– Năm 1911.

– Năm 1941.

– 2/9/1945

– Rồi Bác lãnh đạo nhân dân ta tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ để đi đến thắng lợi hoàn toàn.

=> Cả cuộc đời Bác đã cống hiến trọn vẹn cho nhân dân,cho đất nước. Bác là người Việt Nam đẹp nhất thế kỉ XX.

2. Suy nghĩ về cuộc đời và sự nghiệp của Bác:

– Bác đã hy sinh cả cuộc đời vì nền độc lập tự do của dân tộc.

– Bác là tấm gương sáng cho mọi thế hệ người Việt Nam noi theo.

– Tên tuổi Bác, sự nghiệp cách mạng của Người sống mãi cùngnon sông, đất nước…

– Tất cả những việc làm của Bác xuất phát từ lòng yêu nước nồng nàn, lòng thương dân, thương những kiếp người lầm than cực khổ…

– Tỏ lòng biết ơn Bác, ngày nay khắp mọi nơi trên đất nước ta đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức ở Bác.

– Là học sinh, chúng ta ta thực hiện tốt 5 điều Bác dạy vàgóp phần đưa đất nước sánh vai cùng các cường quốc năm châu như lúc sinh thời Bác đã từng mong ước.

III. Kết bài: Khẳng định lại công lao to lớn của Bác.

Giải đề 2 (Trang 34 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Nước ta có nhiều tấm gương vượt lên số phận, học tập thành công (như anh Nguyễn Ngọc Kí bị hỏng tay, dùng chân viết chữ; anh Hoa Xuân Tứ bị cụt tay, dùng vai viết chữ; anh Đỗ trọng Khơi bị bại liệt đã tự học, trở thành nhà thơ; anh Trần Văn Thước bị tai nạn lao động, liệt toàn thân đã tự học, trở thành nhà văn,…). Lấy nhan đề “Những người không chịu thua số phận”, em hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của mình về những con người ấy.

Trả lời:

I. Mở bài: Giới thiệu vấn đề

II. Thân bài:

1. Giải thích:

– “Số phận”

– “Những người không chịu thua số phận”

2. Biểu hiện:

– Những con người không chịu thua số phận là những con người:

+ Có nhận thức đúng đắn về số phận (họ nhận ra rằng số phận nằm trong tay mỗi con người và họ quyết tâm vượt lên hoàn cảnh, vượt lên chính mình để tạo dựngcuộc sống tốt đẹp cho mình và người thân, để trở thành người có ích…)

+ Có nhiều đóng góp cho xã hội (họ tự phục vụ mình, làm ra của cải nuôi sống bản thân, giảm bớt gánh nặng cho gia đình, cho xã hội, cống hiến cho xã hội…)

+ Họ là những tấm gương sáng (tấm gương vươn lên trên nỗi bất hạnh của mình để cất lên những tiếng ca ca ngợi cuộc đời, nhen lên niềm tin lẽ sống cho mọingười…)

– Nhắc đến “những người không chịu thua số phận”, trong chúng ta, ai cũng vô cùng cảm phục khi nói về những tấm gương giàu nghị lực.

=> Họ chính là những tấm gương tiêu biểu cho một lẽ sống đẹp, không chịukhuất phục sự nghiệt ngã của số phận.

3. Nguyên nhân: Nhờ đâu họ có sức mạnh để vượt lên số phận?

– Bởi vì họ có ý chí nghị lực, có niềm tin yêu mãnh liệt vào cuộc sống. Họ đã tạo dựng cuộc sống từ muôn vàn khó khăn, gian khổ, thử thách bằng sự kiên trì,nhẫn nại và quyết tâm chiến thắng số phận của mình. Họ là những bông hoahướng dương luôn hướng về phía mặt trời.

– Bên cạnh đó, nhờ có sự động viên khích lệ của gia đình, bạn bè xã hội nên họcó đủ dũng cảm, tự tin để vượt qua hoàn cảnh, số phận và những chông gai ở phía trước.

4. Ý nghĩa:

-“Không chịu thua số phận” giúp họ có tinh thần, quyết tâm vượt lênhoàn cảnh, vượt lên chính mình để sống có ích, sống có cống hiến cho xã hội, giảm bớt gánh nặng cho gia đình…

– Hơn hết, họ là những tấm gương sáng để lại trong chúng ta bài học sâu sắc về nghị lực và ý chí vươn lên..

5. Phản đề: phê phán những cá nhân không kiên cường, nhụt chí trước những chông gai cuộc sống. Mỗi khi gặp khó khăn thường rất dễ nản lòng, chưa thật sự cố gắng đã đầu hàng số phận, dễ buông xuôi hoặc ý lại, hoặc phải ứngtiêu cực…(Học sinh lấy một vài dẫn chứng tiêu biểu ). Đó là những người hèn nhát, không dám đối diện với sự thật nên khó thành công trong mọi việc.

6. Ý kiến đánh giá, bình luận:

– Không đao to búa lớn, chính cuộc đời họ – “những người không chịu thua số phận” là thông điệp cao cả về lối sống có ích. Làm thơ, viết văn, dạy học… bằng những công việc thầm lặng, họ đã cống hiến cho xã hội như cây xanh làm đẹp cho đời, điểm tô cho cuộc sống

– Họ là bài học lớn cho thể hệ trẻ hôm nay, trong hoàn cảnh đầy đủ tiện nghi sung túc, được sống trong sự yêu thương, quan tâm của cha mẹ, xã hội thì không ít học sinh, thanh niên tự đánh mất mình, lao vào tệ nạn xã hội, lối sống vônghĩa ăn chơi, hưởng thụ, không biết cố gắng phấn đấu, để trở thành người có ích cho xã hội, đất nước.

– Họ là những tấm gương khiến chúng ta vô cùng khâm phục, trân trọng, quý mến…

– Trách nhiệm của chúng ta:

+ Những người tàn tật cần được quan tâm, giúp đỡ hơn nữa. (Phần lớn những người may mắn như chúng ta đã bao giờ cho rằng giúp đỡ những người tàn tật làvấn đề cần được quan tâm hơn nữa không? Và chúng ta đã làm được những gì cho họ? )

+ Giúp đỡ người tàn tật là trách nhiệm của cả cộng đồng (Giúp đỡ họ không chỉ là trách nhiệm của những tổ chức nhân đạo, các cơ quan chính quyền mà còn làtrách nhiệm của tất cả mọi người chúng ta ).

+ Giúp đỡ người tàn tật là biểu hiện sâu sắc nhất của lòng nhân ái.

III. Kết bài:

– “Những người không chịu thua số phận” mãi mãi được mọi người yêu quý, khâm phục và kính trọng.

– Rút ra được nhiều bài học bổ ích về lẽ sống, về ý chí, nghị lực, niềm tin, khát vọng… (trong bất kì hoàn cảnh nào, dù số phận có nghiệt ngã đến mấy vẫnquyết tâm vươn lên, vượt qua mọi thử thách để sống có ích).

– Ngưỡng mộ họ, sẵn sàng sẻ chia, giúp đỡ để họ bớt đi những đau đớn, nhọc nhằn.

Giải đề 3 (Trang 34 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Việt Nam tuy điều kiện kinh tế hạn chế, cơ sở vật chất chưa phát triển, nhưng đã có nhiều học sinh đoạt huy chương vàng tại các cuộc thi quốc tế về toán, lí, ngoại ngữ,… Năm 2004, sinh viên Việt Nam lại đoạt giải vô địch cuộc thi Robocon châu Á tại Hàn Quốc. Hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của em về hiện tượng đó.

Trả lời:

I. Mở bài:

– Tinh thần hiếu học, vượt khó đã trở thành truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam.

– Giới trẻ ngày nay tiếp thu truyền thống quý báu của ông cha và không ngừng làm vẻ vang truyền thống đó.

– Vượt lên gian khó, đã biến những ước mơ thành hiện thực và gặt hái những thành công (đem những tấm huy chương vàng, đem vinh quang về cho Tổ quốc).

II. Thân bài:

1. Tình hình đất nước Việt Nam trong thời đại mới:

– Đất nước: nghèo nàn, lạc hậu, cơ sở vật chất chưa phát triển, đầu tư cho giáo dục còn hạn chế, đời sống của nhân dân so với các nước tiên tiến trên thế giới còn thua kém nhiều về mọi mặt,…

– Về thanh niên Việt Nam trong thời đại mới (luôn khao khát, ước mơ dù bất cứ hoàn cảnh nào, khát vọng biến ước mơ thành hiện thực).

2. Những thànhcông đã đạt được (của HS, sinh viên) trong các cuộc thi:

– Thành tích: trong các kì thi quốc tế về các môn khoa học cơ bản, HS, sinh viên Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích, đặt biệt là trong những năm gần đây.

– Cảm nhận của bản thân về những thành tích đó.

3. Nguyên nhân củanhững thành công:

a. Nguyên nhân khách quan:

– Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, của các cấp, cácngành đặc biệt là ngành Giáo dục và Đào tạo (tạo môi trường, đầu tư…)

– Được sự quan tâm, động viên, tạo điều kiện của gia đình, thầy cô, bạn bè, người thân…

b. Nguyên nhân chủ quan:

– Có nghị lực, quyết tâm, thông minh, năng động, sáng tạo, có phương pháp học tập tốt.

– Luôn mơ ước và khát khao biến ước mơ thành hiện thực.

– Có tinh thần thi đấu quyết liệt vì màu cờ, sắc áo, vì niềm tự hào dân tộc.

4. Suy nghĩ về họ và những điều mà họ đạt được:

– Là những tấm gương sáng về lòng quyết tâm, nghị lực vượt lên gian khó.

– Là tấm gương điển hình của những con người sống để mơ ước– khát khao – cống hiến.

– Là những con người có công lớn với đất nước, làm rạng danh non sông gấm vóc Việt Nam.

III. Kết bài:

– Thành công của họ chứng tỏ con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam luôn tiềm tàng một sức mạnh nội lực sẵn sàng vượt lên gian khó.

– Cảm phục trước tấm gương sáng về tinh thần vượt khó, nghị lực, quyết tâm, lòng đam mê.

Giải đề 4 (Trang 34 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Một hiện tượng khá phổ biến hiện nay là vứt rác ra đường hoặc những nơi công cộng. Ngồi bên hồ, dù là hồ đẹp nổi tiếng, người ta cũng tiện tay vứt rác xuống… Em hãy đặt một nhan đề để gọi ra hiện tượng ấy và viết bài văn nêu suy nghĩ của mình.

Trả lời:

I. Mở bài:

– Trong cuộc sống thực tại, một trong những nguyên nhân làm Trái Đất biến đổi khí hậu và môi trường bị ô nhiễm là vứt rác bừa bãi ra đường hoặc những nơi công cộng.

– Ngồi bên hồ, dù là hồ đẹp nổi tiếng, người ta cũng tiện tay vứt rác xuống.

– Vậy, chúng ta suy nghĩ như thế nào về hiện tượng này?

II. Thân bài:

1. Biểu hiện:

– Vứt rác ra đường hoặc những nơi công cộng là một thói quen vẫn thường xảy ra trong đời sống của con người Việt Nam:

+ Trên xe khách, trong rạp chiếu phim, ngoài công viên,… người ta vẫn sẵn sằng vứt ra túi ni lông, thuốc lá,…

+ Ngay cả trong trường học, học sinh cũng thường vứt rác vào ngăn bàn, chân cầu thang, dưới sân trường…

+ Những khu du lịch nổi tiếng như Cát Bà, Vịnh Hạ Long, Động Phong Nha, lượng rác thải cũng quá nhiều, bộ phận gom rác cũng phải làm việc liên tục nhưng vẫn chưa giải quyết triệt để về vệ sinh môi trường.

-> Những hành vi đó không phải là cá biệt. Người ta xả rác như các quyềnđược thế, thành một cố tật xấu khó sửa chữa.

2. Nguyên nhân:

a. Chủ quan:

– Do thói quen đã có từ lâu đời.

– Do thiếu hiểu biết.

– Do thiếu ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường, ích kỉ, lười nhác, thiếu lòng tự tôn dân tộc, thiếu một tấm lòng…

b. Khách quan:

– Do đất nước còn nghèo nàn, lạc hậu (các phương tiện thu gom rác còn hạn chế, thiếu thốn, có nơi còn không có phương tiên cũng như người thu gom rác…)

– Giờ thu gom rác không đáp ứng được với tất cả người dân.

– Không có chế tài xử phạt nghiêm khắc.

c. Tuyên truyền rộng rãi nhưng không sâu sắc về tác hại của việc xả rác (chừng nào người dân còn chưa thấy xấu hổ khi xả rác nơi công cộng, chưa có ý thức giữ gìn nơi công cộng như nhàmình, chưa nghĩ rằng mình sẽ bị phạt nặng hoặc có thể bị ra tòa hoặc bị mọi người chê cười, lên án…chừng ấy vẫn còn hiện tượng xả rác ra đường, nơi côngcộng).

3. Tác hại/ hậu quả:

– Tạo ra một thói quen xấu trong đời sống văn minh hiện đại.

– Gây ô nhiễm môi trường.

– Bệnh tật phát sinh ( có khi thành dịch), giảm sút sức khỏe, tốn kém tiền bạc…

– Ảnh hưởng đến cảnh quan, thẩm mĩ, mất đi vẻ xanh-sạch-đẹp vốn có ( ó nơi còn bị biến dạng,bị phá hủy do rác).

– Ngành du lịch gặp khó khăn, hình ảnh dân tộc, đất nước bị giảm đi ấn tượng tốt đẹp.

– …

4. Ý kiến đánh giá, bình luận:

– Xả rác bừa bãi là một hành động thiếu văn hóa, đáng bị phê phán.

– Những hiện tượng này chứng tỏ con người chưa có ý thức về vấn đề bảo vệ môi trường sống, chưa có trách nhiệm với cộng đồng cũng như đối với cuộc sống của bản thân mình.

– Bởi vậy, mỗi người cần phải rèn cho mình tinh thần trách nhiệm, cũng như ý thức bảo vệ môi trường.

– Chúng ta phải tuyên truyền cho mọi người hiểu được tác hại của hiện tượng này.

– Đồng thời, nhà nước cũng cần có những biện pháp hữu hiệu trong việc thu gom rác thải và cũng cần phải xử phạt nghiêm khắc với các hành vi vi phạm.

III. Kết bài:

– Mơ ước chung của nhân dân ta: trong tương lai không xa Việt Nam sẽ trở thành một trong những con rồng châu Á.

– Mỗi người cùng đóng góp sức mình vào công cuộc chung ấy.

– Bắt đầu bằng việc làm nhỏ của mỗi người: bỏ rác đúng nơi quy định.

II. Yêu cầu

– Nhận rõ vấn đề trong các sự việc, hiện tượng cần nghị luận.

– Bài làm cần có nhan đề tự đặt.

– Bài làm có luận điểm rõ ràng, có luận cứ và lập luận.

– Các phần mở bài, Thân bài, Kết bài có mạch lạc, liên kết.

Tham khảo thêm cách soạn khác bài Viết tập làm văn số 5 – Nghị luận xã hội

Đề 1: Bác Hồ là lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của em về Người.

Dàn bài:

a) Mở bài

– Giới thiệu sơ lược về Bác Hồ.

– Nêu lên suy nghĩ của bản thân về Bác.

b) Thân bài

– Giới thiệu của về thân thế, sự nghiệp của Bác

+ Tên thật; năm sinh, năm mất; quê quán

+ Những sự kiện tiêu biểu trong cuộc đời Bác

– Bác là vĩ lãnh tụ vĩ đại của nhân dân, anh hùng giải phóng dân tộc

+ … (Nêu lên những sự kiện tiêu biểu trong cuộc đời Bác từ 1911 – 1969)

+ 30 năm bôn ba đi tìm đường cứu nước

+ Bác lãnh đạo nhân dân ta chống lại 2 cuộc chiến tranh lớn của dân tộc

+ Bác đề ra con đường cứu nước đúng đắn, định hướng cho đất nước đi theo con đường Xã hội chủ nghĩa.

+ Vị chủ tịch nước đầu tiên của nước ta.

– Bác Hồ – danh nhân văn hóa thế giới

+ Bác là một nhà văn, nhà thơ chính trị với nhiều tác phẩm: Nhật kí trong tù, Đường Kách Mệnh, Con rồng tre,… Tác phẩm của Người gây được nhiều tiếng vang

+ Bác cũng là một nhà ngoại giao tài ba.

– Nêu lên suy nghĩ của bản thân về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

+ Những đức tính tốt của Bác mà chúng ta phải học tập.

+ Bản thân đã làm được những gì trong đó.

+ Giới trẻ cần phải làm gì để xứng đáng là một công dân của đất nước.

c) Kết bài

– Khẳng định Bác là tấm gương sáng cho thế hệ sau học tập

Đề 2: Nước ta có nhiều tấm gương vượt lên số phận, học tập thành công (như anh Nguyễn Ngọc Kí bị hỏng tay,dùng chân viết chữ; anh Đỗ Trọng Khơi bị bại liệt đã tự học, trở thành nhà thơ; anh Trần Văn Thước bị tai nạn lao động, liệt toàn thân đã tự học, trở thành nhà văn). Lấy nhan đề “những người không chịu thua số phận” em hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của em về những con người ấy .

a) Mở bài:

– Giới thiệu một vài tấm gương vượt lên hoàn cảnh để đạt được nhiều thành công

– Giới thiệu dẫn dắt vào đề “những người không chịu thua số phận”

b) Thân bài

– Thế nào là những con người không chịu thua số phận?

+ Những con người có nghị lực luôn tin tưởng nỗ lực sẽ thành công

+ Luôn kiên trì không phó mặc, không tin vào số phận

– Biểu hiện của những con người không chịu thua số phận

+ Luôn luôn cố gắng khắc phục khó khăn.

+ Không lùi bước trước trở ngại

+ Không bỏ cuộc khi vấp ngã…

– Một số tấm gương những con người không chịu thua số phận tiêu biểu

+ Nguyễn Ngọc Kí

+ Trần Văn Thước

+ Nick Vujic…

– Thực trạng giới trẻ hiện nay và biện pháp

+ Một bộ phận luôn cố gắng nỗ lực vượt khó

+ Một bộ phận lười biếng luôn phó mặc cho số phận, đổ lỗi cho số phận

+ Cần thức tỉnh bộ phận giới trẻ có ý thức tiêu cực phó mặc cho số phận, đổ lỗi cho số phận

– Liên hệ thực tế bản thân

c) Kết bài

– Khẳng định rằng con người luôn luôn phải biết cố gắng, nỗ lực vượt khó để đạt thành công trong cuộc sống.

Đề 3: Việt Nam tuy điều kiện kinh tế hạn chế, cơ sở vật chất chưa phát triển, nhưng đã có nhiều học sinh đạt huy chương vàng tại các cuộc thi quốc tế về toán, lí, ngoại ngữ,… năm 2004, tân sinh viên việt nam lại đoạt giải robocon châu á tại Hàn Quốc. hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của em về hiện tượng đó.

a) Mở bài

– Tuy diều kiện hạn chế nhưng học sinh Việt Nam nỗ lực luôn học tập, vượt khó học tập làm nên những điều kì diệu – đem vinh quang về cho nước nhà.

b) Thân bài

– Điều kiện của Việt Nam thua kém so với các nước khác như thế nào?

+ Điều kiện Kinh tế

+ Điều kiện dân trí xã hội

+ điều kiện học tập của học sinh Việt Nam

– Học sinh Việt Nam cố gắng học tập nỗ lực vượt khó

+ những nỗ lực khắc phục khó khăn của học sinh và giáo viên Việt Nam

+ truyền thống hiếu học truyền đời, ý chí kiên cường, bất khuất, quyết tâm của con người Việt Nam

+ những thành tích tiêu biểu đã đạt được

– Liên hệ thực tế học sinh Việt Nam và bản thân

+ những tấm gương học tập tiêu biểu cần được khuyến khích noi theo

+ bộ phận học sinh lười biếng, ỷ lại, không có ý thức học tập cần phải phê phán thức tỉnh

+ Bản thân em ý thức được mình nên làm những gì, đã làm được những gì. Rút ra bài học.

c) Kết bài

– Khẳng định học sinh cần kế thừa và phát huy truyền thống hiếu học và tinh thần vươn lên vượt khó học tập đem vinh quang cho tổ quốc cảu cha ông.

Đề 4: Một hiện tượng khá phổ biến hiện nay là vứt rác ra đường hoặc nơi công cộng. Ngồi bên hồ dù hồ có đẹp nổi tiếng người ta vẫn tiện tay vứt rác xuống. Em hãy đặt nhan đề cho hiện tượng và viết bài văn nêu suy nghĩ của mình.

a) Mở bài

– Môi trường đang ngày một ô nhiễm vì rác thải

– Tình trạng “vứt rác thải bừa bãi”

b) Thân bài

– Thế nào là vứt rác thải bừa bãi

+ Vứt rác không đúng nơi quy định

– Nguyên nhân của hiện tượng vứt rác thải bừa bãi: Ý thức của người dân

– Tình trạng và hậu quả hiện nay

+ tình trạng: rác thải tràn lan, không được xử lí tốt

+ hậu quả: môi trường ô nhiễm nghiêm trọng: làm chết nhiều loài động vật…

– Biện pháp khắc phục

+ Xử lí rác thải trước khi đưa ra môi trường

+ Hạn chế sử dụng túi nilon, các vật liệu không thể tái chế, không thể phân hủy… Tích cực sử dụng các vật liệu có thể tái chế, tái sử dụng, thân thiện với môi trường…

+ Nghiên cứu chế tạo các vật liệu thân thiện với môi trường

+ Tuyên truyền nâng cao ý thức của người dân

– Liên hệ bản thân

+ Bản thân đã vứt rác đúng quy định chưa? Những điều cần làm và sẽ làm.

c) Kết bài

– Khẳng định vứt rác bừa bãi là hành động sai trái gây hại cho môi trường, mọi người phải cùng nhau bảo vệ môi trường

(BAIVIET.COM)