Soạn bài – Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em

Soạn bài Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em trang 31 – 36 SGK ngữ văn lớp 9 tập 1. Để học tốt hơn danh sách các bài tập trong bài Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em, sau đây là hướng dẫn soạn bài và giải bài tập đầy đủ và chi tiết nhất.

TUYÊN BỐ THẾ GIỚI VỀ SỰ SỐNG CÒN,
QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ EM

1. Chúng tôi tham dự Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em(1) để cùng nhau ca kết và ra lời kêu gọi khẩn thiết với toàn thể nhân loại: hãy đảm bảo cho tất cả trẻ em một tương lai tốt đẹp hơn.

2. Tất cả trẻ em trên thế giới đều trong trắng, dễ bị tổn thương và còn phụ thuộc. Đồng thời chúng hiểu biết, ham hoạt động và dầy ước vọng. tuổi chúng phải được sống trong vui tươi, thanh bình, được chơi, được học và phát triển. Tương lai của chúng phải được hình thành trong sự hòa hợp và tương trợ. Chúng phải được trưởng thành khi được mở rộng tầm nhìn, thu nhận thêm những kinh nghiệm mới.

Sự thách thức

3. Tuy nhiên, thực tế cuộc sống thời thơ ấu của nhiều trẻ em lại không được như vậy.

4. Hằng ngày có vô số trẻ em trên thế giới bị phó mặc cho những hiểm họa (2) làm kìm hãm sự tăng trưởng và phát triển của các cháu đó. Chúng phải chịu bao nhiêu nỗi bất hạnh do bị trở thành nạn nhân của chiến tranh và bạo lực, của nạn phân biệt chủng tộc, chế độ a-pác-thai(3), của sự xâm lược, chiếm đóng và thôn tính(4) của nước ngoài. Có những cháu trở thành người tị nạn(5), sống tha hương do bị cưỡng bức phải từ bỏ gia đình, cội rễ. Có những cháu khác lại chịu cảnh tàn tật hoặc trở thành nạn nhân của sự lãng quên, ruồng bỏ, đối xử tàn nhẫn và bóc lột.

5. Mỗi ngày, có hàng triệu trẻ em phải chịu đựng những thảm họa của đói nghèo và khủng hoảng kinh tế, của nạn đói, tình trạng vô gia cư, dịch bệnh, mù chữ, môi trường xuống cấp. Ở nhiều nước đang phát triển, đặc biệt là những nước kém phát triển nhất, trẻ em phải chịu tác động nặng nề của nợ nước ngoài, của tình hình kinh tế không giữ được mức độ tăng trưởng đều đặn hoặc không có khả năng tăng trưởng.

6. Mỗi ngày có tới 40.000 trẻ em chết do suy dinh dưỡng và bệnh tật, kể cả hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS), hoặc do thiếu nước sạch thiếu vệ sinh và do tác động của vấn đề ma túy.

7. Đó là những sự thách thức mà chúng tôi, với tư cách là những nhà lãnh đạo chính trị, phải đáp ứng.

Cơ hội

8. Liên kết lại, các nước chúng ta có đủ các phương tiện và kiến thức để bảo vệ sinh mệnh của trẻ em, loại trừ được một phần rất lớn những nỗi khổ đau của các em, thúc đẩy sự phát triển đầy đủ tiềm năng con người ở trẻ em và làm cho các em nhận thức được nhu cầu, các quyền của mình cũng như nắm được các cơ hội phục vụ được lợi ích của mình. Công ước(6) về quyền của trẻ em tạo ra một cơ hội mới để cho quyền và phúc lợi trẻ em được thực sự tôn trọng ở khắp nơi trên thế giới.

9. Những cải thiện gần đây của bầu không khí chính trị quốc tế có thể tạo điều kiện dễ dàng cho việc thực hiện nhiệm vụ đó. Dựa vào sự hợp tác và đoàn kết quốc tế, hiện nay đã có khả năng đạt được những kết quả cụ thể trên nhiều lĩnh vực: khôi phục sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, ngăn không để cho các bệnh thường gây tử vong và tàn tật lan rộng và đạt được sự công bằng hơn nữa về xã hội và kinh tế. Những biến chuyển nhằm đạt tới giải trừ quân bị(7) hiện nay cũng nói lên rằng một số tài nguyên to lớn có thể sẽ được chuyển sang phục vụ các mục đích phi quân sự. Tăng cường phúc lợi trẻ em phải là một ưu tiên cao khi tái phân bổ các nguồn tài nguyên đó.

Nhiệm vụ

10. Tăng cường sức khỏe và chế độ dinh dưỡng của trẻ em là trách nhiệm hàng đầu, đồng thời cũng là một nhiệm vụ mà các giải pháp đã nằm trong tầm tay của chúng ta. Sinh mệnh của hàng vạn trẻ em trai và gái có thể được cứu vãn mỗi ngày, vì ta có thể ngăn ngừa được các nguyên nhân dẫn đến tử vong ở các em. Tỉ lệ tử vong của trẻ em nói chung và tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh nói riêng ở nhiều nơi trên thế giới hiện nay đến mức không thể chấp nhận được, tuy nhiên có thể hạ thấp rất nhiều tỉ lệ đó với những biện pháp đã được biết tới va cũng dễ dàng đạt được.

11. Trẻ em bị tàn tật và trẻ em có hoàn cảnh sống đặc biệt khó khăn cần phải được quan tâm chăm sóc nhiều hơn và được hỗ trợ mạnh mẽ hơn.

12. Tăng cường vai trò của phụ nữ nói chung và phải đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và nữ vì lợi ích của trẻ em toàn cầu. Ngay từ đầu, các em gái đã phải được đối xử bình đẳng và có cơ hội đồng đều như các em trai.

13. Hiện nay, có hơn 100 triệu trẻ em vẫn chưa trải qua giáo dục cơ sở, trong đó các em nữ chiếm đến 2/3. Bảo đảm sao cho trẻ em được học hết bậc giáo dục cơ sở và không để cho một em nào mù chữ sẽ là một trong những đóng góp quan trọng nhất đối với sự phát triển của trẻ em trên toàn thế giới.

14. Hiện nay, có nửa triệu bà mẹ chết vì những nguyên nhân có liên quan tới sinh đẻ. Mọi biện pháp có thể áp dụng được để bảo đảm an toàn khi mang thai và sinh đẻ cần được đẩy mạnh. Cần nhấn mạnh trách nhiệm về mặt kế hoạch hoá gia đình và quãng cách sinh nở. Gia đình là cộng đồng nền móng và môi trường tự nhiên để trẻ em lớn khôn và phát triển tốt cho nên cần được bảo vệ và giúp đỡ đầy đủ.

15. cần tạo cho trẻ em cơ hội tìm biết được nguồn gốc lai lịch của mình và nhận thức được giá trị của bản thân trong một môi trường mà các em cảm thấy là nơi nương tựa an toàn, thông qua gia đình hoặc những người khác trông nom các em tạo ra. Phải chuẩn bị để các em có thể sống một cuộc sống trách nhiệm trong một xã hội tự do. Cần khuyến khích trẻ em ngay từ lúc còn nhỏ tham gia vào sinh hoạt văn hóa xã hội.

16. Các điều kiện kinh tế sẽ tiếp tục có ảnh hưởng to lớn đến số phận của trẻ em, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Vì tương lai của tất cả trẻ em, cần cấp bách bảo đảm hoặc khôi phục lại sự tăng trưởng và phát triển đều đặn nền kinh tế ở tất cả các nước, đồng thời tiếp tục khẩn trương tìm ra một giải pháp nhanh chóng, rộng lớn và lâu bền cho vấn đề nợ nước ngoài của các nước đang phát triển đang có nợ.

17. Các nhiệm vụ đó đòi hỏi tất cả các nước cần phải có những nỗ lực liên tục và phối hợp với nhau trong hành động của từng nước cũng như trong hợp tác quốc tế.

(Trích tuyên bố của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em,
trong Việt Nam và các văn kiện quốc tế về quyền trẻ em,
NXB Chính trị quốc gia – Ủy ban Bảo vệ
và chăm sóc trẻ em Việt Nam, Hà Nội, 1997)

Chú thích:

(1) Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em họp tại trụ sở Liên hợp quốc ở Niu Oóc ngày 30 – 9 – 1990.

(2) Hiểm họa: tình trạng nguy hiểm có thể dẫn đến tai họa nghiêm trọng.

(3) Chế độ a-pác-thai: chế độ phân biệt chủng tộc cực đoan và tàn bạo tồn tại từ năm 1652 ở Nam Phi. Giới cầm quyền da trắng ở Nam Phi đã ban hành 70 đạo luật về phân biệt chủng tộc, theo đó ngươi da đen và da màu phải sống làm việc trong những khu riêng biệt, cách biệt hoàn toàn với người da trắng, bị tước hết mọi quyền công dân. Người da trắng chỉ chiếm 1/5 dân số nhưng lại nắm gần 9/10 đất trồng trọt, ¾ tổng thu nhập và toàn bộ hầm mỏ, xí nghiệp, ngân hàng.

Ngày 7 – 6 – 1991 chính quyền Nam phi buộc phải hủy bỏ chính sách phân biệt chủng tộc.

(4) Thôn tính: xâm chiếm đất đai của nước khác, sáp nhập vào lãnh thổ nước mình.

(5) Tị nạn: lánh đi ở những nơi khác để tránh khỏi nguy hiểm, đe dọa do chiến tranh hoặc tình hình chính trị gây ra cho mình.

(6) Công ước: điều ước do nhiều nước cùng kí kết để quy định các nguyên tắc, thể lệ cho từng vấn đề trong quan hệ quốc tế.

(7) Giải trừ quân bị: Giảm bớt hoặc hạn chế vũ khí và lực lượng vũ trang của các nước.

Hướng dẫn soạn bài – Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em

I. Tóm tắt

Bài viết này được trích từ Tuyên bố của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em, trong Việt Nam và các văn kiện quốc tế về quyền trẻ em. Bài viết khẳng định việc bảo vệ quyền lợi, chăm lo đến sự phát triển của trẻ em là một trong những vấn đề quan trọng, cáp bách, có ý nghĩa toàn cầu, mọi quốc gia đều phải thực hiện những nhiệm vụ có tính toàn diện vì sự sống còn, phát triển của trẻ em, vì tương lai của toan nhân loại.

II. Bố cục

Bố cục được chia làm 4 phần:

– Phần 1 (từ đầu đến “thu nhận thêm những kinh nghiệm mới”): phần mở đầu, khẳng định sự cấp thiết và cần thiết của hành động đảm bảo tương lại tốt đẹp cho tất cả trẻ em.

– Phần 2 (tiếp theo đến “phải đáp ứng”): Những thách thức mà nhiệm vụ này đặt ra.

– Phần 3 (tiếp theo đến “tái phan bổ các tài nguyên đó”): Những cơ hội cần nắm bắt để thực hiện quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em.

– Phần 4 (đoạn còn lại): Những nhiệm vụ cụ thể cần phải làm để thực hiện quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em.

III. Hướng dẫn soạn bài Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em

Giải câu 1 (Trang 35 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Văn bản này (gồm 17 mục) được bố cục thành mấy phần? Phân tích tính hợp lí, chặt chẽ của bố cục văn bản.

Trả lời:

Văn bản Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em gồm 17 mục, ngoài phần tuyên bố về mục đích tham dự Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em và nhận thức về nhu cầu, quyền được chăm sóc, phát triển của trẻ em, văn bản được bố cục thành ba phần:

– Phần Sự thách thức: phân tích thực trạng cuộc sống của trẻ em trên thế giới (trẻ em trước hiểm hoạ chiến tranh và bạo lực, trẻ em trong thảm hoạ đói nghèo, khủng hoảng kinh tế, dịch bệnh, ma tuý…);

– Phần Cơ hội: Chỉ ra những điều kiện thuận lợi của bối cảnh quốc tế trong việc thúc đẩy việc chăm sóc, bảo vệ quyền trẻ em;

– Phần Nhiệm vụ: Xác định những nhiệm vụ cần phải thực hiện của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế vì sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em.

Ba phần của văn bản này có quan hệ chặt chẽ với nhau. Hai phần trước là cơ sở, căn cứ để rút ra những nội dung ở phần sau.

Giải câu 2 (Trang 35 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Ở phần “sự thách thức”, bản Tuyên bố đã nêu lên thực tế cuộc sống của trẻ em trên thế giới ra sao? Nhận thức, tình cảm của em khi đọc phần này như thế nào?

Trả lời:

Ở phần “sự thách thức”, bản Tuyên bố đã nêu lên thực tế cuộc sống của trẻ em trên thế giới một cách cụ thể, đầy đủ. Đó là tình trạng bị rơi vào hiểm họa, cuộc sống khổ cực nhiều mặt.

– Bị trở thành nạn nhân chiến tranh và bạo lực, của sự phân biệt chủng tộc, sự xâm lược, chiếm đóng, thôn tính của nước ngoài.

– Chịu đựng những thảm họa của đói nghèo, khủng hoảng kinh tế, của tình trạng vô gia cư, dịch bệnh, mù chữ, môi trường xuống cấp.

– Nhiều trẻ em chết mỗi ngày do suy dinh dưỡng và bệnh tật.

Giải câu 3 (Trang 35 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Qua phần “Cơ hội”, em thấy việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em trong bối cảnh thế giới hiện nay có những điều kiện thuận lợi gì?

Trả lời:

Bối cảnh quốc tế hiện nay có những điều kiện thuận lợi cơ bản để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Những điều kiện thuận lợi này được chỉ ra trong phần “Cơ hội”, cụ thể là:

– Mối liên kết về phương tiện, kiến thức giữa các quốc gia: công ước về quyền trẻ em;

– Sự hợp tác và đoàn kết quốc tế mở ra những khả năng giải quyết những vấn đề về phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, ngăn chặn dịch bệnh, giải trừ quân bị, tăng cường phúc lợi trẻ em.

Giải câu 4 (Trang 35 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Ở phần “nhiệm vụ”, bản Tuyên bố đã nêu lên khá nhiều điểm mà từng quốc gia và cả cộng đồng quốc tế cần phải nổ lực phối hợp hành động. Hãy phân tích tính chất toàn diện của nội dung phần này.

Trả lời:

Phần “nhiệm vụ” của bản tuyên bố đã nêu lên khá nhiều điểm mà từng quốc gia và cộng đồng quốc tế cần phải nổ lực phối hợp hành động. Các nhiệm vụ được nêu ra có tính chất cụ thể, toàn diện: từ tăng sức khỏe và chế độ dinh dưỡng đến phát triển nền giáo dục cho trẻ em, từ các đối tượng cần quan tâm hàng đầu (trẻ tàn tật, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn) đến trẻ em quyền bình đẳng nam nữ đến khuyến khích trẻ em tham gia vào sinh hoạt văn hóa xã hội.

Giải câu 5 (Trang 35 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Qua bản Tuyên bố, em nhận thức như thế nào về tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em, về sự quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với vấn đề này?

Trả lời:

Bản tuyên bố cho chúng ta thấy được tầm quan trọng, tính cấp bách, toàn cầu của nhiệm vụ vì sự sống còn, quyền được bảo vệ, phát triển của trẻ em. Trên tinh thần vì tương lai của nhân loại, bản Tuyên bố đã đưa ra những nhiệm vụ cũng là chiến lược hành động một cách toàn diện cho từng quốc gia và cộng đồng quốc tế. Công việc này còn đòi hỏi sự quan tâm của từng gia đình, từng cá nhân trong mỗi cộng đồng.

Soạn phần luyện tập bài Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em

Giải câu hỏi – Luyện tập (Trang 36 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Phát biểu ý kiến về sự quan tâm, chăm sóc của chính quyền địa phương, của các tổ chức xã hội nơi em ở hiện nay đối với trẻ em.

Trả lời:

Nêu những nhận xét cá nhân về sự quan tâm tới trẻ em ở địa phương.

Ví dụ: Ở đất nước ta, vấn đề bảo vệ chăm sóc trẻ em đã được sự quan tâm cụ thể của Đảng. Nhà nước, sự tham gia tích cực của nhiều tổ chức xã hội, của toàn dân. (Có thể nêu ra những hoạt động vì trẻ em: tiêm chủng miễn phí, khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi, mọi trẻ em đều được đi học, các tổ chức xã hội bảo vệ trẻ em, các tổ chức và hoạt động nhân đạo vì trẻ em thiệt thòi, trẻ em đặc biệt khó khăn…).

Tham khảo thêm cách soạn khác bài Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em

Câu 1. Văn bản này (gồm 17 mục) được bố cục thành mấy phần? Phân tích tính hợp lí, chặt chẽ của bố cục văn bản.

Trả lời:

Văn bản được bố cục thành 4 phần:

– Phần 1 (từ đầu đến “thu nhận thêm những kinh nghiệm mới”): phần mở đầu, khẳng định sự cấp thiết và cần thiết của hành động đảm bảo tương lại tốt đẹp cho tất cả trẻ em.

– Phần 2 Sự thách thức: Nêu lên những thực tế, những con số về cuộc sống khổ cực trên nhiều mặt, về tình trạng bị rơi vào hiểm họa của nhiều trẻ em trên thế giới hiện nay.

– Phần 3 Cơ hội: Khẳng định những điều kiện thuận lợi cơ bản cộng đồng quốc tế có thể đẩy mạnh việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em.

– Phần 4 Nhiệm vụ: Xác định những nhiệm vụ cụ thể mà từng quốc gia và cả cộng đồng quốc tế cần làm vì sự sống còn, phát triển của trẻ em. Những nhiệm vụ này được nêu lên một cách hợp lí và có tính cấp bách bởi trên cơ sở tình trạng, điều kiện thực tế.

4 phần của văn bản này có quan hệ chặt chẽ với nhau. Hai phần trước là cơ sở, căn cứ để rút ra những nội dung ở phần sau.

Câu 2. Ở phần “sự thách thức”, bản Tuyên bố đã nêu lên thực tế cuộc sống của trẻ em trên thế giới ra sao? Nhận thức, tình cảm của em khi đọc phần này như thế nào?

Trả lời:

Phần “Sự thách thức” nêu lên thực tế cuộc sống của trẻ em trên thế giới:

– Trẻ em đang là nạn nhân của chiến tranh, của bạo lực và lãng quên.

– Chịu thảm họa của đói nghèo, khủng hoảng kinh tế, vô gia cư, dịch bệnh, mù chữ, môi trường xuống cấp.

– Là nạn nhân của suy dinh dưỡng, của bệnh tật do đói nghèo, do nghèo.

-> Tất cả đang từng ngày diễn ra với những con số đau lòng không kể xiết. Chứng tỏ Liên Hợp Quốc đã nhận thức rõ thực trạng khổ đau và giúp các em vượt qua nỗi bất hạnh đang đọa đày.

Câu 3. Qua phần “Cơ hội”, em thấy việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em trong bối cảnh thế giới hiện nay có những điều kiện thuận lợi gì?

Trả lời:

Điều kiện thuận lợi của thế giới qua phần “Cơ hội” :

– Đã có công ước về quyền trẻ em.

– Sự hợp tác và đoàn kết quốc tế ngày càng có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực.

– Phong trào giải trừ quân bị tạo điều kiện một số tài nguyên chuyển sang phục vụ mục tiêu phúc lợi xã hội.

Câu 4. Ở phần “nhiệm vụ”, bản Tuyên bố đã nêu lên khá nhiều điểm mà từng quốc gia và cả cộng đồng quốc tế cần phải nổ lực phối hợp hành động. Hãy phân tích tính chất toàn diện của nội dung phần này.

Trả lời:

Tính chất toàn diện của nội dung phần “Nhiệm vụ” :

– Tăng cường sức khỏe và chế độ dinh dưỡng, giảm tỉ lệ tử vong của trẻ em.

– Quan tâm nhiều hơn đến trẻ con tàn tật và trẻ em có nhiều khó khăn.

– Đảm bảo bình đẳng giới, chủng tộc.

– Đảm bảo trẻ em được học hết bậc giáo dục cơ sở xóa mù chữ.

– Đảm bảo an toàn cho các bà mẹ mang thai, kết hợp sinh đẻ có kế hoạch.

– Tạo một môi trường an toàn, xã hội tự do để trẻ em được nương tựa, khẳng định, tham gia vào các sinh hoạt văn hóa.

-> Các nhiệm vụ đưa ra khá cụ thể, toàn diện và hợp lí: từ nhiệm vụ trước mắt đến nhiệm vụ mang tính chịu đựng lâu dài về sự sống còn và phát triển của trẻ em.

Câu 5. Qua bản Tuyên bố, em nhận thức như thế nào về tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em, về sự quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với vấn đề này?

Trả lời:

– Bảo vệ, chăm sóc trẻ em là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng hàng đầu của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế, liên quan trực tiếp đến tương lai nhân loại.

– Vấn đề này đang được quốc tế dành sự quan tâm thích đáng với các chủ trương, nhiệm vụ cụ thể, toàn diện.

Soạn phần luyện tập bài Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em trang 36 SGK ngữ văn 9 tập 1

Câu hỏi: Phát biểu ý kiến về sự quan tâm, chăm sóc của chính quyền địa phương, của các tổ chức xã hội nơi em ở hiện nay đối với trẻ em.

Trả lời:

Hiện nay việc quan tâm, chăm sóc trẻ em là vấn đề được đặt lên hàng đầu của nước ta. Ví dụ: mọi trẻ em đều có quyền bình đẳng, được đến trường, hình thành các tổ chức xã hội giúp đỡ trẻ em lang thang, cơ nhỡ, có hoàn cảnh khó khăn…

Nhận xét – Ý nghĩa

Sau bài học, học sinh hiểu được tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ và chăm sóc trẻ em trong bối cảnh thế giới hiện nay và sự quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với vấn đề này. Quan trọng hơn, học sinh ý thức được những quyền lợi mà bản thân các em được hưởng, biết quý trọng, yêu thương chính mình và bạn bè xung quanh.

(BAIVIET.COM)