Soạn bài – Truyện Kiều (Phần Nỗi thương mình)

Soạn bài Truyện Kiều (Phần Nỗi thương mình) trang 107 – 108 SGK ngữ văn lớp 10 tập 2. Để học tốt hơn danh sách các bài tập trong bài Truyện Kiều (Phần Nỗi thương mình), sau đây là hướng dẫn soạn bài đầy đủ, ngắn gọn và chi tiết nhất.

TRUYỆN KIỀU

(Tiếp theo)

NGUYỄN DU

NỖI THƯƠNG MÌNH

KẾT QUẢ CẦN ĐẠT

Hiểu được tình cảnh trớ trêu mà Thúy Kiều phải đương đầu và ý thức sâu sắc của nàng về phẩm giá.

Thấy được vai trò của các phép tu từ, nhất là các hình thức đối xứng trong đoạn trích.

TIỂU DẪN

Khi Mã Giám Sinh đưa Kiều đến nhà chứa của Tú Bà, Kiều đã quyết liệt chống lại âm mưu biến nàng thành kĩ nữ, nhưng cuối cùng nàng đã rơi vào bẫy của Tú Bà và buộc phải ra tiếp khách. Đoạn trích tả tình cảnh trớ trêu mà Kiều đã gặp phải và nỗi niềm thương thân xót phận của Kiều (từ câu 1229 đến câu 1248).

VĂN BẢN

Biết bao bướm lả ong lơi (1),
Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm.
Dập dìu lá gió cành chim (2),
Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh (3).

Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật mình mình lại thương mình xót xa.
Khi sao phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.

Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!
Mặc người mưa Sở mây Tần (4),
Những mình nào biết có xuân là gì (5).

Đòi phen gió tựa hoa kề (6),
Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu.
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?

Đòi phen nét vẽ câu thơ,
Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa.
Vui là vui gượng kẻo là,
Ai tri âm đó mặn mà với ai?

(Theo ĐÀO DUY ANH, Từ điển “Truyện Kiều”, Sđd)

Chú thích:

(1) Bướm lả ong lơi: ở đây “bướm ong” dùng để chỉ những người hiếu sắc. “Bướm lả ong lơi” nguyên là “bướm ong lả lơi”, được tác giả tách ra thành hai vế đối lập nhau. Lả lơi diễn tả sự suồng sã, đùa cợt của khách làng chơi.

(2) Lá gió cành chim: cụm từ này có liên hệ với hai câu cổ thi “Chi nghênh nam bắc điểu – Diệp tống vãng lai phong” (Cành đón chim nam bắc – Lá đưa gió lại qua), chỉ cảnh người kĩ nữ tiếp khách bốn phương.

(3) Tống Ngọc và Trường Khanh: Tống Ngọc là một tác giả nổi tiếng về thể phú thời Chiến quốc, trong đó có bài Phú Cao Đường. Trong lời tựa bài phú có nói Tống Ngọc kể chuyện tiên vương nước Sở chiêm bao gặp thần nữ núi Vu Sơn sáng làm mây chiều làm mưa. Trong văn cảnh câu thơ, “Tống Ngọc” chỉ loại khách chơi phong lưu. Trường Khanh là tên tự của Tư Mã Tương Như, danh sĩ đời Hán, người đã từng gảy khúc nhạc Phượng cầu kì hoàng (Chim phượng tìm chim hoàng) để quyến rũ Trác Văn Quân, một quả phụ xinh đẹp nổi tiếng. Ở đây, Trường Khanh cũng chỉ loại người ăn chơi phong lưu.

(4) Mưa Sở mây Tần: mưa Sở: mưa ở Vu Sơn nước Sở (xem lại điển Tống Ngọc ở chú thích (3) tr.107), chỉ quan hệ thân xác. Vì Tần thường được dùng đối với Sở nên có mây Tần đối với mưa Sở chứ mây Tần không có điển riêng.

(5) Nào biết có xuân là gì: ý nói không vui thú gì.

(6) Gió tựa hoa kề: gió và hoa chỉ nam và nữ. Hai động từ tựa, kề diễn tả sự lả lơi của người khách làng chơi và kĩ nữ khi ngồi bên nhau.

Hướng dẫn soạn bài – Truyện Kiều (Phần Nỗi thương mình)

I. Bố cục

– Phần 1: (4 câu đầu): Cuộc sống ở lầu xanh và tình cảnh trớ trêu của Kiều.

– Phần 2: (8 câu tiếp): Tâm trạng cô đơn, chán ngán của Thúy Kiều khi phải sống quãng đời nhơ nhuốc nơi lầu xanh.

– Phần 3: (còn lại): Tâm trạng của Kiều được bộc lộ qua cảnh vật.

Vị trí:

Từ câu 1229 đến câu 1248

II. Hướng dẫn soạn bài Truyện Kiều (Phần Nỗi thương mình)

Giải câu 1 (Trang 108 SGK ngữ văn 10 tập 2)

Theo anh (chị), đoạn trích trên đây có thể chia thành mấy đoạn nhỏ? Cho biết nội dung của mỗi đoạn.

Trả lời:

Bố cục gồm 3 đoạn:

– Đoạn 1 (từ đầu đến “Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh”): giới thiệu khái quát cuộc sống ở lầu xanh và tình cảnh trớ trêu của Thúy Kiều.

– Đoạn 2 (tiếp đến “Những mình nào biết có xuân là gì”: thể hiện tâm trạng cô đơn, chán ngán của Thúy Kiều khi phải sống trong cảnh cay đắng nhơ nhuốc ở lầu xanh.

– Đoạn 3 (còn lại): Nguyễn Du dùng cảnh vật để diễn tả tâm trạng cô đơn, đau khổ của Thúy Kiều.

Giải câu 2 (Trang 108 SGK ngữ văn 10 tập 2)

Bút pháp ước lệ trong đoạn trích có ý nghĩa như thế nào đối với việc diễn tả thân phận éo le của nàng Kiều? Qua đó, có thể nói gì về tình cảm của tác giả đối với nhân vật?

Trả lời:

Bút pháp ước lệ thể hiện trong các hình ảnh: bướm ong, cuộc say, trận cười hoặc trong việc sử dụng các điển cố, điển tích: Tống Ngọc, Trường Khanh, mưa Sở, mây Tần. Bút pháp ước lệ tạo ra mộ cách nói đậm chất văn chương, giúp tác giả vượt qua được sự khó khăn trong việc thể hiện ý đồ nghệ thuật của mình. Ví dụ hình ảnh cuộc sống của Thúy Kiều ở lầu xanh (một vấn đề khá tế nhị), nhờ bút pháp ước lệ nên vẫn hiện ra một cách chân thực (do đó tạo nên tính chất phê phán của tác phẩm).

Mặt khác, cũng nhờ những hình ảnh ước lệ mà chân dung nhân vật Thúy Kiều vẫn hiện lên với những phẩm chất cao đẹp (qua đó thể hiện thái độ trân trọng đầy cảm thông của nhà thơ đối với Thúy Kiều).

Giải câu 3 (Trang 108 SGK ngữ văn 10 tập 2)

Cho biết các dạng thức đối xứng khác nhau được sử dụng trong đoạn trích và giá trị nghệ thuật của chúng.

Trả lời:

Các dạng thức đối xứng:

– Đối xứng trong 4 chữ: bướm lả – ong lơi ; lá gió – cành chim; dày gió – dạn sương; bướm chán – ong chường; mưa Sở – mây Tần; gió tựa – hoa kề => hình thức này góp phần làm nổi bật thân phận bẽ bang của người kĩ nữ, và cảm giác đau đớn, xót xa của nhân vật.

– Tiểu đối trong khuôn khổ 1 câu thơ: Khi tỉnh rượu – lúc tàn canh; Nửa rèm tuyết ngậm – bốn bề trăng thâu => nhấn mạnh sự liên tục, kéo dài của sự vật hay cái mênh mông của không gian.

– Đối xứng giữa 2 câu lục bát: tạo nên cái nhìn đa chiều về nỗi niềm thương thân xót phận của nhân vật.

+ Khi sao phong gấm rủ là/ Giờ sao tan tác như hoa giữa đường: đối lập gay gắt giữa quá khứ êm đềm và hiện tại đầy nghiệt ngã.

+ Mặt sao …/ … ong chường bấy thân: nhấn mạnh có ý so sánh: nỗi đau về sự nhuốc nhơ của thân thể còn đau khỏ hơn là sự bẽ bang chua chat trên vẻ mặt.

+ Mặc người mây Sở, mưa Tần / Những mình nào biết có xuân là gì: đối lập mang nghĩa so sánh giữa người và chính mình.

Giải câu 4 (Trang 108 SGK ngữ văn 10 tập 2)

“Nỗi thương mình” của nhân vật có ý nghĩa mới mẻ như thế nào đối với văn học trung đại?

Trả lời:

– Đoạn trích góp vào văn học một ý nghĩa sâu sắc và mới mẻ xét về sự tự ý thức của con người cá nhân trong lịch sử văn học trung đại (thơ ca trung đại thường nói về cái “ta” nhiều hơn cái “tôi”).

– Người phụ nữ thời xưa thường được giáo dục phải an phận thủ thường, cam chịu, nhẫn nhục => trong đoạn trích, khi Thúy Kiều “Giật mình mình lại thương mình xót xa” đã bao hàm ý nghĩa thức tỉnh về quyền sống của cá nhân mình. Con người tuy chưa bứt ra hẳn khỏi sự hi sinh, nhẫn nhục, cam chịu nhưng đã chủ động ý thức về phẩm giá, nhân cách của bản thân mình.

Giải câu 5 (Trang 108 SGK ngữ văn 10 tập 2)

Trong cuộc tái ngộ, Kim Trọng nói với Kiều: “Như nàng lấu làm trinh – Bụi nào cho đục được mình ấy vay?”. Theo anh (chị), đoạn trích này có thể góp phần lí giải câu nói đó như thế nào?

Trả lời:

Đoạn trích ghi lại một đoạn đời đầy bị kịch của Thuý Kiều. Qua miêu tả tâm trạng, thái độ, ý thức của Kiều trước cảnh phải cầm lòng tiếp khách, Nguyễn Du đã thể hiện vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách của Kiều ngời lên giữa một xã hội bạo tàn, nhơ bẩn với sự cảm thông sâu sắc của người nghệ sĩ. Đoạn trích góp phần thể hiện giá trị nhân văn cao cả của tác phẩm.

Lời Kim Trọng nói với Kiều trong ngày tái ngộ đã xác nhận chữ “trinh” của nàng. Vì chữ “hiếu”, nàng đã phải hi sinh cả sự trinh trắng, trải qua mười lăm năm sống cuộc đời gió bụi, qua tay Mã Giám Sinh, làm vợ Thúc Sinh rồi Từ Hải, hết rơi vào lầu xanh của Tú Bà lại rơi vào lầu xanh của Bạc Bà, Bạc Hạnh nhưng “bụi nào cho đục được mình ấy vay?”, tâm hồn, nhân cách, phẩm giá của Kiều vẫn trong trắng, cao thượng. Nguyễn Du đã không né tránh thực tế nghiệt ngã, nhưng cũng chính trong thực tế ấy, nhà thơ hết lời ca ngợi, đề cao vẻ đẹp nhân cách, phẩm giá của Kiều mà đoạn trích “Nỗi thương mình” là một đoạn tiêu biểu.

Tham khảo thêm cách soạn khác bài Truyện Kiều (Phần 2: Trao Duyên)

Câu 1. Theo anh (chị), đoạn trích trên đây có thể chia thành mấy đoạn nhỏ? Cho biết nội dung của mỗi đoạn.

Trả lời:

Bố cục: 3 phần

– Phần 1: (4 câu đầu): Cuộc sống ở lầu xanh và tình cảnh trớ trêu của Kiều.

– Phần 2: (8 câu tiếp): Tâm trạng cô đơn, chán ngán của Thúy Kiều khi phải sống quãng đời nhơ nhuốc nơi lầu xanh.

– Phần 3: (còn lại): Tâm trạng của Kiều được bộc lộ qua cảnh vật.

Câu 2. Bút pháp ước lệ trong đoạn trích có ý nghĩa như thế nào đối với việc diễn tả thân phận éo le của nàng Kiều? Qua đó, có thể nói gì về tình cảm của tác giả đối với nhân vật?

Trả lời:

– Bút pháp ước lệ là cách sử dụng điển tích, điển cố để miêu tả cảnh vật hoặc tâm trạng con người

– Trong đoạn trích Nỗi thương mình, Nguyễn Du đã sử dụng rất nhiều bút pháp ước lệ để miêu tả chốn lầu xanh: bướm lả ong lơi, lá gió cành chim, sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh, mưa Sở mây Tần, gió tựa hoa kề,…

⇒ Bút pháp ước lệ giúp tác giả miêu tả chốn lầu xanh nhơ bẩn mà ý thơ vẫn thanh cao, trang nhã ⇒ Thể hiện sự tôn trọng nhân cách cao đẹp của nàng Kiều

Câu 3. Cho biết các dạng thức đối xứng khác nhau được sử dụng trong đoạn trích và giá trị nghệ thuật của chúng.

Trả lời:

Các dạng thức đối xứng được sử dụng trong đoạn trích:

– Điệp từ sóng đôi: khi – lúc, khi sao – giờ sao, vui – vui, ai – ai,…

– Tiểu đối: sớm đưa Tống Ngọc – tối tìm Trường Khanh, khi tỉnh rượu – lúc tàn canh, cung cầm trong nguyệt – nước cờ dưới hoa,…

– Đối xứng cấp thấp: bướm lả – ong lơi, lá gió – cành chim, dày gió – dạn sương, bướm chán – ong chường, mưa Sở – mây Tần, gió tựa – hoa kề, nét vẽ – câu thơ,…

⇒ Sử dụng liên tiếp những sự đối xứng, trực tiếp phơi mở tâm trạng của Thúy Kiều: tâm trạng tự xót thương cho thân phận mình.

Câu 4. “Nỗi thương mình” của nhân vật có ý nghĩa mới mẻ như thế nào đối với văn học trung đại?

Trả lời:

Ý nghĩa mới mẻ trong nỗi thương mình của nhân vật: sự tự ý thức về cá nhân trong mọi thời đại mà cái cá nhân có xu hướng triệt tiêu. Hơn nữa, đây lại là ý thức cá nhân của một người phụ nữ, đối tượng được giáo dục theo tinh thần “tam tòng” an phận thủ thường, cam chịu, nhẫn nhục. Sự tự ý thức về bản thân của nàng Kiều có ý nghĩa “cách mạng”. Con người không chỉ biết hi sinh, nhẫn nhục, cam chịu mà còn biết ý thức về phẩm giá, nhân cách bản thân.

Câu 5. Trong cuộc tái ngộ, Kim Trọng nói với Kiều: “Như nàng lấu làm trinh – Bụi nào cho đục được mình ấy vay?”. Theo anh (chị), đoạn trích này có thể góp phần lí giải câu nói đó như thế nào?

Trả lời:

– Trước hết đoạn trích khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của Kiều qua miêu tả tâm trạng, thái độ, ý thức của Kiều trước bi kịch của cuộc đời.

– Lời Kim Trọng nói với Kiều trong ngày tái ngộ đã xác nhận chữ “trinh” và giá trị nhân phẩm của nàng. Vì chữ “hiếu”, nàng đã phải hi sinh cả sự trinh trắng, trải qua mười lăm năm sống cuộc đời gió bụi, qua tay biết bao nhiêu hạng người nhưng tâm hồn, nhân cách, phẩm giá của Kiều vẫn trong trắng, cao thượng. Nguyễn Du đã không né tránh thực tế nghiệt ngã, nhưng cũng chính trong thực tế ấy, nhà thơ hết lời ca ngợi, đề cao vẻ đẹp nhân cách, phẩm giá của Kiều mà đoạn trích “Nỗi thương mình” là một đoạn tiêu biểu.

(BAIVIET.COM)