Soạn bài – Truyện Kiều (Phần 2: Trao Duyên)

Soạn bài Truyện Kiều (Phần 2: Trao Duyên) trang 103 – 106 SGK ngữ văn lớp 10 tập 2. Để học tốt hơn danh sách các bài tập trong bài Truyện Kiều (Phần 2: Trao Duyên), sau đây là hướng dẫn soạn bài đầy đủ, ngắn gọn và chi tiết nhất.

TRUYỆN KIỀU

(Tiếp theo)

NGUYỄN DU

Phần hai: CÁC ĐOẠN TRÍCH

TRAO DUYÊN

KẾT QUẢ CẦN ĐẠT

Hiểu được tình yêu sâu nặng và bi kịch của Kiều qua đoạn trích. Đối với Kiều, tình và hiếu thống nhất chặt chẽ.

Nắm vững nghệ thuật miểu tả tâm trạng nhân vật qua đoạn trích.

TIỂU DẪN

Bọn sai nha gây nên vụ án oan sai đối với gia đình Thúy Kiều, nàng buộc phải hi sinh mối tình với Kim Trọng, bán mình lấy tiền hối lộ cho chúng để cứu cha và em khỏi đòn tra khảo dã man. Việc bán mình đã thu xếp xong xuôi, Kiều ngồi trắng đêm nghĩ đến thân phận và tình yêu rồi nàng nhờ em gái là Thúy Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng. Đoạn trích sau đây (từ câu 723 đến câu 756) là lời Thúy Kiều nói cùng Thúy Vân.

VĂN BẢN

“… Cậy em em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan (1) chắp mối tơ thừa mặc em.

Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề (2).
Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình (3) khôn lẽ hai bề vẹn hai.

Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối (4) hãy còn thơm lây.

Chiếc vành với bức tờ mây (5),
Duyên này thì giữ vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc (6) ắt lòng chẳng quên.

Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa (7).
Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy so tơ phím này (8).

Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về (9).
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu (10) đền nghì trúc mai (11).

Dạ đài (12) cách mặt khuất lời,
Rưới xin giọt nước cho người thác oan.
Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!

Trăm nghìn gửi lạy tình quân (13),
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.

Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”

(Theo ĐÀO DUY ANH, Từ điển “Truyện Kiều”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974)

Chú thích:

(1) Keo loan: thứ keo chế bằng huyết chim loan dùng để gắn kết các vật.

(2) Quạt ước, chén thề: hai người tặng nhau quạt để ngỏ ý ước hẹn trăm năm, uống rượu thề nguyền chung thủy.

(3) Hiếu tình: hiếu với cha mẹ, tình với người yêu. Hiếu: một phạm trù đạo đức quan trọng của đạo Nho. Hi sinh quyền lợi tiêng tư, cá nhân, kể cả tình yêu cho hiếu là một nguyên tắc ứng xử phổ biến của người xưa.

(4) Chín suối: tức “cửu tuyền”, chỉ âm phủ – cõi của người chết theo quan niệm xưa.

(5) Vành: cái vòng, xuyến đeo tay. Câu 318: “Xuyến vàng đôi chiếc khăn là một vuông”. Tờ mây: tờ giấy có trang trí hình mây ghi lời thề nguyền của hai người, cũng có thể là thư từ giữa hai người.

(6) Mệnh bạc: (bạc: mỏng đối lập với hậu: dày dặn) số mệnh bất hạnh.

(7) Đàn và hương: những vật mà Kim – Kiều từng có chung kỉ niệm (đốt hương và gảy đàn bên nhau). Xem thêm chú thích (1), tr. 105.

(8) Mai sau dù có bao giờ – Đốt lò hương ấy so tơ phím này: Kiều nhớ đến đêm thề nguyền khi nàng sang nhà Kim Trọng, chàng Kim đã thêm hương vào lò hương, sau khi thề nguyền, nàng đã đánh đàn cho Kim Trọng nghe.

(9) Người xưa tin rằng có linh hông tồn tài khi thể xác không còn. Hồn Đạm Tiên cũng đã hiện về qua làn gió “Ào ào đổ lộc rung cây – Ở trong dường có hương bay ít nhiều”.

(10) Bồ liễu: tên một loại cây, chỉ người phụ nữ yếu đuối.

(11) Trúc mai: cây trúc và cây mai, chỉ tình yêu lứa đôi.

(12) Dạ đài: âm phủ.

(13) Tình quân: (quân: từ tôn xưng có sắc thái tôn trọng) người con gái xưa dùng từ này để gọi người yêu.

Hướng dẫn soạn bài – Truyện Kiều (Phần 2: Trao Duyên)

I. Bố cục

– Phần 1: (12 câu đầu) Kiều tìm cách thuyết phục và trao duyên cho Thúy Vân.

– Phần 2: (15 câu tiếp) Kiều trao kỉ vật và dặn dò em.

– Phần 3: (còn lại) Kiều đau đớn, vật vã đến ngất đi.

Vị trí:

Từ câu 723 đến câu 756: Khởi đầu cho quãng đời lưu lạc và đau khổ của Thúy Kiều.

II. Hướng dẫn soạn bài Truyện Kiều (Phần 2: Trao Duyên)

Giải câu 1 (Trang 106 SGK ngữ văn 10 tập 2)

Việc Kiều nhắc đến các kỉ niệm của tình yêu có ý nghĩa gì?

Trả lời:

Việc Kiều nhắc đến các kỉ niệm của tình yêu có ý nghĩa:

– Khi trao duyên, Kiều nhớ lại kỉ niệm đêm thề nguyền thiêng liêng và những kỉ vật => Kỉ vật, kỉ niệm nào cũng phong kín và in hằn tình nghĩa sâu nặng của Thúy Kiều.

– Kiều sống trong những hồi ức đẹp => càng thấy xót xa, đau đớn khi phải mang những kỉ vật riêng tư ra chia sẻ.

– Những kỉ niệm, kỉ vật in hằn trong tâm hồn Kiều cho thấy trong tâm hồn nàng, những kỉ niệm về tình yêu với chàng Kim có một sức sống mãnh liệt, tình cảm cho nàng dành cho Kim Trọng không bao giờ phai.

Giải câu 2 (Trang 106 SGK ngữ văn 10 tập 2)

Hãy tìm những từ ngữ cho thấy Kiều đã nghĩ đến cái chết. Việc tập trung dày đặc những từ ngữ đó có ý nghĩa gì?

Trả lời:

Tình yêu tan vỡ, đớn đau và tuyệt vọng, Kiều nghĩ nghiều đến cái chết. Trong những lời Kiều nói với Thúy Vân, có nhiều từ ngữ phản ánh ý nghĩa này:

“Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về”

Nói đến câu này, Kiều nhớ đến cảnh Đạm Tiên đã từng hiện về qua làn gió “ào ào đổ lộc rung cây” khi Kiều thắp hương và làm thơ bên mộ nàng trong ngày tết thanh minh, các từ như “hồn”, “dạ đài”, “người thác oan”, … đều có ý nghĩa nói về cái chết. Với Kiều, lúc này, cuộc đời trở nên trống trải và vô nghĩa. Không còn tình yêu nữa, nàng chỉ nghĩ đến cái chết và luôn tưởng tượng, nó sẽ là cái chết đầy oan nghiệt. Việc tập trung dày đặc những từ ngữ đó trong cùng một đoạn thơ cho thấy sự băn khoăn, day dứt của Nguyễn Du trước nỗi đau của con người. Nó là tiếng nói thương thân xót phận cho người con gái tha thiết yêu thương nhưng số kiếp lại vô cùng nghiệt ngã, đã cướp đi tất cả những ước mơ tốt đẹp của nàng.

Giải câu 3 (Trang 106 SGK ngữ văn 10 tập 2)

Kiều đối thoại với những ai? Phân tích diễn biến tẩmtạng của Kiều qua các lời thoại trong đoạn trích.

Trả lời:

Kiều đối thoại với:

– Thúy Vân (lúc trao duyên): “Cậy em … thì hay chị về.”

– Chính mình: “hồn còn mang nặng … đền nghì trúc mai”; “bây giờ trâm gãy … ái ân”; …

– Kim Trọng: “Trăm nghìn … hoa trôi lỡ làng”.

Diễn biến tâm trạng: Kiều mở đầu màn trao duyên bằng những lời ràng buộc Thúy Vân, nhưng cao trào, bi kịch thân phận và tình yêu của nàng lên đến đỉnh điểm khi nàng nói với chính mình và với Kim Trọng. Kiều trao duyên mà tình không trao được, chia sẻ kỉ niệm tình yêu với Thúy Vân mà không thể nói hết những đớn đau, tuyệt vọng, xót xa. Khi Kiều nói với chính mình cũng là khi nàng xót thương cho thân phận mình, ước mong níu kéo được tình yêu với Kim Trọng. Càng đến cuối đoạn, Kiều càng rã rời đi, đau đớn và tuyệt vọng đến mức muốn tìm đến cái chết – một cái chết đau thương và tủi hổ. Nhưng vì gia đình, nàng không thể làm vậy, trong nỗi khốn khổ khôn cùng, Kiều vẫn tự nhận tất cả lỗi lầm về mình, người “phụ tình chung “với Kim Trọng. Tâm trạng của Kiều từ đau đớn, xót xa đến mâu thuẫn, giằng xé trong tuyệt vọng và tủi hổ với người yêu. Sau khi trao duyên, nàng coi như mình đã chết.

Giải câu 4 (Trang 106 SGK ngữ văn 10 tập 2)

Nhận xét về mối quan hệ giữa tình cảm và lí trí, nhân cách và thân phận của Kiều qua đoạn trích.

Trả lời:

Mối quan hệ giữa tình cảm và lí trí, nhân cách và thân phận của Kiều đoạn trích.

Nguyễn Du khắc họa hình ảnh Kiều qua nhiều tình huống mâu thuẫn. Mâu thuẫn hiếu – tình nàng chấp nhận hi sinh tình yêu trong trắng của mình. Đứng giữa tình và nghĩa, Kiều nhận thức được sự tất yếu phải nhờ em trả nghĩa chàng Kim. Có lúc Kiều hành động thiên về bổn phận có khi nàng ứng xử nghiêng về nghĩa tình. Kiều tỉnh táo để chấp nhận mệnh bác. Kiều day dứt đớn đau vì sống không trọn vẹn với tình yêu đầu đời. Kiều được sống chân thực và tự nhiên với tất cả đời sống tình cảm của con người. Nguyễn Du không biến Kiều thành một tấm gương đạo đức đơn giản.

Tham khảo thêm cách soạn khác bài Truyện Kiều (Phần 2: Trao Duyên)

Câu 1. Việc Kiều nhắc đến các kỉ niệm của tình yêu có ý nghĩa gì?

Trả lời:

– Kiều nhắc đến những kỷ vật tình yêu của mình với Kim Trọng vừa là để kể cho Vân nghe về mối tình của mình, vừa là để sống lại với những ký ức tình yêu.

– Kiều sống lại những hồi ức đẹp đẽ để rồi lại đau đớn mang chúng trao lại cho Thúy Vân.

⇒ Khẳng định: tình yêu của nàng và chàng Kim sẽ bất diệt, sẽ sống mãi trong tâm hồn nàng, dù những kỉ vật tình yêu nàng đã trao cho Vân.

Câu 2. Hãy tìm những từ ngữ cho thấy Kiều đã nghĩ đến cái chết. Việc tập trung dày đặc những từ ngữ đó có ý nghĩa gì?

Trả lời:

– Những từ ngữ cho thấy Kiều nghĩ đến cái chết: thịt nát xương mòn, ngậm cười chín suối, người mệnh bạc, thấy hiu hiu gió thì hay chị về, nát thân bồ liễu, người thác oan, trâm gãy bình tan, nước chảy hoa trôi,…

– Việc tập trung dày đặc những từ ngữ mang hàm ý cái chết trong những lời bộc bạch của Kiều càng chứng tỏ sự rối bời và trống trải trong lòng Kiều.

+ Đối với Kiều, mối tình với chàng Kim như là lẽ sống. Khi buộc lòng phải trao duyên cho Vân, nàng không những từ bỏ mối tình với chàng Kim mà còn tự từ bỏ chính mình. Nàng buông xuôi và nghĩ đến cái chết.

⇒ Thể hiện sự băn khoăn, nỗi day dứt của Nguyễn Du trước nỗi đau của con người, cũng là sự xót thương cho thân phận người con gái tài hoa mà bạc mệnh.

Câu 3. Kiều đối thoại với những ai? Phân tích diễn biến tẩmtạng của Kiều qua các lời thoại trong đoạn trích.

Trả lời:

a) Trao duyên cho Vân nhưng Kiều không chỉ đối thoại với Vân (22 câu đầu) mà nàng còn tự đối thoại với chính mình (10 câu tiếp) và đối thoại cùng Kim Trọng (2 câu cuối).

b) Diễn biến tâm trạng của Kiều:

– Đối thoại với Thúy Vân:

+ Mở đầu là sự khẩn khoản, tha thiết thậm chí là ép buộc Vân nhận mối duyên của mình: “Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”. Tiếp đó, Kiều sống lại trong những ký ức tình yêu với Kim Trọng khi nàng kể cho Vân nghe về mối tình của mình. Kiều trao cho Vân những kỉ vật tình yêu của mình và Kim Trọng, cũng là vừa để mình được ngắm nhìn chúng lần nữa.

⇒ Nếu ban đầu là sự cương quyết, ép buộc em nhận mối lương duyên của mình thì càng về sau, Kiều càng tỏ ra nuối tiếc, càng không muốn dứt bỏ mối tình ấy. Nàng đau khổ khi phải tự đấu tranh với chính bản thân mình, đến mức dù trao cho Vân nhưng vẫn muốn giữ lại một chút cho mình trong mối nhân duyên đó: “Duyên này thì giữ, vật này của chung”. Từ “của chung” không phải là “của Vân và Kim Trọng” mà là “của chung ba người” ⇒ Kiều không thể nào dứt bỏ hoàn toàn tình yêu với Kim Trọng.

– Đối thoại với chính mình:

+ Sau khi trao duyên cho Vân, Kiều cảm thấy trống rỗng, buông xuôi. Không còn tình yêu của Kim Trọng, nàng cảm thấy như mình đã chết đi rồi.

⇒ Cái chết bủa vây tâm trí Kiều. Đối với Kiều, tình yêu với chàng Kim là cả lẽ sống. Mất lẽ sống ấy, nàng chỉ còn là cái xác không hồn. Nàng tự coi mình là một người đã chết.

– Đối thoại với chàng Kim:

+ Lời thổ lộ ngắn ngủn hai câu nhưng là tiếng kêu xé lòng của Kiều: “Ôi Kim Lang, hỡi Kim Lang/ Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”

⇒ Đó là tiếng khóc thương Kiều dành cho người yêu, người mà đến lúc đó vẫn chưa biết mối tình đẹp đẽ mình vun đắp đang đổ vỡ dần dần

+ Kiều tự xem mình là một kẻ phản bội. Dù không muốn phản bội, nhưng nàng tự nhận đó là lỗi của mình, là mình đã phụ chàng, đã vứt bỏ chàng.

⇒ Tiếng kêu bất lực của Thúy Kiều vang lên đầy đau đớn như một dấu chấm hết cho một mối lương duyên tươi đẹp vừa mới chớm nở đã lụi tàn.

Câu 4. Nhận xét về mối quan hệ giữa tình cảm và lí trí, nhân cách và thân phận của Kiều qua đoạn trích.

Trả lời:

Mối quan hệ giữa tình cảm và lí trí:

– Kiều bị đặt vào những mâu thuẫn giữa tình cảm và lí trí, giữa một bên là chữ tình và một bên là chữ hiếu:

+ Để làm tròn chữ hiếu, nàng buộc phải lựa chọn từ bỏ tình cảm với Kim Trọng.

+ Nàng không nhẫn tâm nhìn chàng Kim đắm chìm trong đau khổ.

⇒ Nàng nhờ Vân thay mình trả nghĩa chàng Kim.

+ Trong cuộc trao duyên, nàng cũng rơi vào mâu thuẫn giữa tình cảm và lý trí một cách mãnh liệt:

+ Tình cảm của nàng và chàng Kim rất sâu đậm, đến mức nếu đánh mất nó, nàng xem như mình chết đi rồi. Khi trao duyên cho Vân, con tim nàng vẫn dùng dằng không dứt, vẫn còn muốn níu kéo một chút ít cho riêng mình.

+ Lý trí không cho phép nàng lưu luyến mối nhân duyên dang dở, vì gia đình đang gặp chuyện, cha và em thì đang chịu cảnh tù ngục, nàng phải quyết định sớm để cứu gia đình

⇒ Lý trí thắng tiếng nói của con tim, nhưng nàng thì coi như mình là một người đã chết, một cái xác không hồn. Trong tâm trí nàng kể từ khi quyết định trao duyên cho Vân đã luôn nghĩ đến cái chết.

* Mối quan hệ giữa nhân cách và thân phận của Thúy Kiều

– Thúy Kiều vốn xuất thân là con nhà danh giá, trâm anh thế phiệt.

+ Là tiểu thư lớn của nhà Vương viên ngoại.

+ Là người con gái tài sắc vẹn toàn. Tài năng và nhan sắc của nàng khiến cho trời đất cũng phải ghen tị ⇒ báo hiệu cuộc đời đầy sóng gió của nàng.

– Nàng là người con gái đức hạnh, sống có tình có nghĩa, người con hiếu thảo của gia đình.

+ Nàng là người tình chung thủy: phải từ bỏ tình yêu của mình cũng không muốn người mình yêu đau khổ.

+ Nàng là người con có hiếu: để cứu cha và em trai, nàng quyết định bán mình cho Mã Giám Sinh.

– Nàng là người con gái tài hoa, xinh đẹp nhưng bạc mệnh: điều này đã có điềm báo từ những dòng miêu tả nhan sắc của nàng ở đầu truyện thơ. Cuộc đời Kiều trải qua hơn mười năm sóng gió, qua tay biết bao nhiêu hạng người, thân người con gái liễu yếu đào tơ đã phải mạnh mẽ như thế nào mới vượt qua được tất cả những bi kịch cuộc đời?

⇒ Giữa nhân cách và số phận của Thúy Kiều cũng có sự mâu thuẫn. Mâu thuẫn ấy dường như lại là sự mâu thuẫn với câu đúc kết của người xưa rằng “Ở hiền gặp lành”.

(BAIVIET.COM)