Soạn bài – Tiếng nói của văn nghệ

Soạn bài Tiếng nói của văn nghệ trang 12 – 17 SGK ngữ văn lớp 9 tập 2. Để học tốt hơn danh sách các bài tập trong bài Tiếng nói của văn nghệ, sau đây là hướng dẫn soạn bài và giải bài tập đầy đủ, ngắn gọn và chi tiết nhất.

TIẾNG NÓI CỦA VĂN NGHỆ

Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại. Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ. Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần của mình góp vào đời sống chung quanh.

Nguyễn Du viết:

Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

nào phải để cho ta biết cảnh mùa xuân ra sao mà thôi, hai câu thơ làm chúng ta rung động với cái đẹp lạ lùng mà tác giả đã nhìn thấy trong cảnh vật, rung động với cảnh thiên nhiên mỗi mùa xuân lại như tái sinh, tươi trẻ mãi, và cảm thấy trong lòng ta có những sự sống tươi trẻ luôn luôn tái sinh ấy. Tất cả những cảnh, những tình, những con người, những sự việc của một cuốn tiểu thuyết, nếu chỉ làm cho trí tò mò hiểu biết của ta thỏa mãn thì đóng quyển sách lại cũng không còn gì. Nhưng chúng ta đọc các dòng cuối cùng rồi, chúng ta biết hết đầu đuôi câu chuyện rồi, chúng ta biết nàng Kiều mười lăm năm đã chìm nổi những gì, hay là An-na Ca-rê-nhi-na(1) đã chết thảm khốc ra sao, chúng ta không còn cần biết gì thêm, mà vẫn ngồi mãi trước trang sách chưa muốn gấp, đầu óc bâng khuâng nặng những suy nghĩ, trong lòng còn vương vấn những vui buồn không bao giờ quên được nữa: chúng ta vừa nghe thấy lời gửi từ mấy trăm năm trước của Nguyễn Du hay Tôn-xtôi.

Lời gửi của nghệ thuật không những là bài học luân lí hay một triết lí về đời người, hay những lời khuyên xử thế, hay một sự thực tâm lí, hoặc xã hội.

Nếu Truyện Kiều rút ra chỉ còn là:

Trăm năm trong cõi người ta,

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
hoặc:

Thiện căn ở tại lòng ta,

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
thì tác phẩm của Nguyễn Du sẽ biến thành một thứ “Phật giả diễn ca”, cũng như An-na ca-rê-nhi-na sẽ biến thành “Bác ái(2) giáo diễn thuyết”.

Không, lời gửi của một Nguyễn Du, một Tôn-xtôi cho nhân loại phức tạp hơn, cũng phong phú và sâu sắc hơn. Chúng ta nhận những nghệ sĩ vĩ đại ấy không những là mấy học thuyết luân lí(3), triết học(4), mà tất cả những say sưa, vui buồn, yêu ghét, mơ mộng, phẫn khích, và biết bao nhiêu tư tưởng của từng câu thơ, từng trang sách, bao nhiêu hình ảnh đẹp đẽ mà đáng lẽ chúng ta không nhận được hằng ngày chung quanh ta, một ánh nắng, một lá cỏ, một tiếng chim, bao nhiêu bộ mặt con người trước kia ta chưa nhìn thấy, bao nhiêu vẻ mới mẻ, bao nhiêu vấn đề mà ta ngạc nhiên tìm ra ngay trong tâm hồn chúng ta nữa.

Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng, không bao giờ nhòa đi, ánh sáng ấy bấy giờ biến thành của ta, và chiếu tỏa lên mọi việc chúng ta sống, mọi con người ta gặp, làm cho thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta nghĩ. Những nghệ sĩ lớn đem tới được cho cả thời đại họ một cách sống tâm hồn.

[…] Chúng ta nhận rõ cái kì diệu của văn nghệ khi chúng ta nghĩ đến những người rất đông, không phải ở trốn trong một cơ quan bí mật, không phải bị giam trong một nhà pha(5), mà bị tù chung thân trong cuộc đời u tối, vất vả không mở được mắt. Những người đàn bà nhà quê lam lũ ngày trước, suốt đời đầu tắt mặt tối, sống tối tăm, vậy mà biến đổi khác hẳn, khi họ ru con hay hát ghẹo nhau bằng một câu ca dao, khi họ chen nhau say mê xem một buổi chèo. Câu ca dao tự bao giờ truyền lại đã gieo vào bóng tối những cuộc đời cực nhọc ấy một ánh sáng, lay động những tình cảm, ý nghĩ khác thường. Và ánh đèn buổi chèo, những nhân vật ra trò, những lời nói, những câu hát, làm cho những con người ấy trong một buổi được cười hả dạ hay rỏ giấu một giọt nước mắt. Văn nghệ đã làm cho tâm hồn họ thực được sống. Lời gửi của văn nghệ là sự sống.

Sự sống ấy tỏa đều cho mọi vẻ, mọi mặt của tâm hồn. Văn nghệ nói chuyện với tất cả tâm hồn chúng ta, không riêng gì trí tuệ, nhất là trí thức.

Có lẽ văn nghệ rất kị “trí thức hoá” nữa. Một nghệ thuật đã trí thức hóa thường là trừu tượng, khô héo. Nhưng văn nghệ nói nhiều nhất với cảm xúc, nơi đụng chạm của tâm hồn với cuộc sống hằng ngày. Vì văn nghệ không thể sống xa lìa cuộc sống và sống là gì, nếu không phải trước hết là hành động, là làm lụng, là cần lao(7). Chiến đấu cũng là một hình thức cần lao, nói bằng danh từ khoa học, con người trước hết là con người sản xuất.

Chỗ đứng của văn nghệ chính là chỗ giao nhau của tâm hồn con người với cuộc sống hành động, cuộc đời sản xuất, cuộc đời làm lụng hằng ngày, giữa thiên nhiên và giữa những người làm lụng khác. Chỗ đứng chính của văn nghệ là ở tình yêu ghét, niềm vui buồn, ý đẹp xấu trong đời sống thiên nhiên và đời sống xã hội của chúng ta. Cảm giác, tình tự(8), đời sống cảm xúc, ấy là chiến khu(9) chính của văn nghệ. Tôn-xtôi nói vắn tắt:

Nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm.

Nghệ thuật nói nhiều với tư tưởng nữa, nghệ thuật không thể nào thiếu tư tưởng, Không tư tưởng, con người có thể nào còn là con người. Nhưng trong nghệ thuật, tư tưởng từ ngay cuộc sống hằng ngày nảy ra, và thấm trong tất cả cuộc sống. Tư tưởng của nghệ thuật không bao giờ là trí thức(10) trừu tượng một mình trên cao. Một câu thơ, một trang truyện, một vở kịch, cho đến một bức tranh, một bản đàn, ngay khi làm chúng ta rung động trong cảm xúc, có bao giờ để trí óc chúng ta nằm lười yên một chỗ. Nhưng nghệ sĩ không đến mở một cuộc thảo luận lộ liễu và khô khan với chúng ta về một vấn đề khoa học hay triết học. Anh làm cho chúng ta nhìn, nghe, rồi từ những con người, những câu chuyện, những hình ảnh, những nỗi niềm của tác phẩm sẽ khơi mung lung(11) trong trí óc ta những vấn đề suy nghĩ. Cái tư tưởng trong nghệ thuật là một tư tưởng náu mình, yên lặng. Và cái yên lặng của một câu thơ lắng sâu xuống tư tưởng. Một bài thơ hay không bao giờ ta đọc qua một lần mà bỏ xuống được. Ta sẽ dừng tay trên trang giấy đáng lẽ lật đi, và đọc lại bài thơ. Tất cả tâm hồn chúng ta đọc, không phải chỉ có trí thức. Và khác với cách đọc riêng bằng trí thức, lần đọc thứ hai chậm hơn, đòi hỏi nhiều cố gắng hơn, nhiều chỗ chúng ta dừng lại hơn. Cho đến một câu thơ kia, người đọc nghe thì thầm mãi trong lòng, mắt không rời trang giấy.

[…] Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng. Nghệ sĩ giới thiệu với chúng ta một cảm giác, tình tự, một tư tưởng bằng cách làm sống hiển hiện ngay lên trong tâm hồn chúng ta cảm giác, tình tự, tư tưởng ấy. Nghệ thuật không đứng ngoài trỏ vẽ cho ta đường đi, nghệ thuật vào đốt lửa trong lòng chúng ta, khiến chúng ta tự phải bước lên đường ấy. Bắt rễ ở cuộc đời hằng ngày của con người, văn nghệ lại tạo được sự sống cho tâm hồn người. Nghệ thuật mở rộng khả năng của tâm hồn, làm cho con người vui buồn nhiều hơn, yêu thương và căm hờn được nhiều hơn, tai mắt biết nhìn, biết nghe thêm tế nhị, sống được nhiều hơn. Nghệ thuật giải phóng được cho con người khỏi những biên giới của chính mình, nghệ thuật xây dựng con người, hay nói cho đúng hơn, làm cho con người tự xây dựng được. Trên nền tảng cuộc sống của xã hội, nghệ thuật xây dựng đời sống tâm hồn cho xã hội.

1948
(Nguyễn Đình Thi(*), Tuyển tập, tập III, NXB Văn học, Hà Nội, 1997)

Chú thích:

(*) Nguyễn Đình Thi (1924 – 2003) quê ở Hà Nội, là thành viên của tổ chức Văn hóa cứu quốc do Đảng cộng sản thành lập từ năm 1943. Sau cách mạng tháng Tám, ông làm Tổng thư kí Hội Văn hóa cứu nước, đại biểu Quốc hội khoá đầu tiên. Từ năm 1958 đến 1989, Nguyễn Đình Thi là Tổng Thư kí Hội nhà văn Việt Nam. Từ năm 1995, ông là Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật. Hoạt động văn nghệ của Nguyễn Đình Thi khá đa dạng: làm thơ, viết văn, sáng tác nhạc, soạn kịch, viết lí luận phê bình. Năm 1996, ông đã được Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

Tiểu luận Tiếng nói của văn nghệ được Nguyễn Đình Thi viết năm 1948 (thời kì đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp), in trong cuốn mấy vấn đề văn học (xuất bản năm 1956).

(1) An-na Ca-rê-nhi-na: nhân vật trong cuốn tiểu thuyết cùng tên của văn hào Nga Lép Tôn-xtôi (1828 – 1910). Đau khổ vì phải chịu những thành kiến xã hội vùi dập, vì không tìm thấy hạnh phúc trong hôn nhân, trong cuộc sống, nàng đã lao vào đoàn tàu đang chạy và chết một cách thảm khốc.

(2) Bác ái: có lòng thương yêu rộng rãi đối với mọi người. Bác ái giáo: tư tưởng chủ trương lấy tình thương yêu rộng rãi để cảm hóa mọi người.

(3) Luân lí: những quy tắc về quan hệ đạo đức giữa người với người trong xã hội.

(4) Triết học: khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của thế giới và sự nhận thức thế giới tự nhiên, xã hội.

(5) Nhà pha: nhà tù, trại giam tù nhân.

(6) Trí thức hóa: ở đây dùng với nghĩa trở thành kiến thức sách vở, xa rời cuộc sống sinh động.

(7) Cần lao: cần cù trong lao động.

(8) Tình tự (từ cũ, nay ít dùng): tâm tình, tình cảm.

(9) Chiến khu: 1) khu vực tác chiến quan trọng, có ý nghĩa đến chiến lược; 2) khu vực được lấy làm căn cứ của cuộc chiến đấu. Ở đây dùng với nghĩa: lĩnh vực chủ yếu mà văn nghệ tác động đến.

(10) Trí thức: tri thức (dùng theo nghĩa cũ).

(11) Mung lung: 1) (khoảng không gian) rộng và lờ mờ, không rõ nét, gây cảm giác hư ảo; 2) (ý nghĩ) rộng và tràn lan, không tập trung, không rõ nét. Ở đây dùng với nghĩa sau.

Hướng dẫn soạn bài – Tiếng nói của văn nghệ

I. Bố cục:

– Phần 1 (từ đầu đến “một cách sống của tâm hồn”): Nội dung phản ánh và thể hiện của văn nghệ.

– Phần 2 (đoạn còn lại): Sức mạnh kỳ diệu, lớn lao của văn nghệ đối với đời sống.

II. Hướng dẫn soạn bài Tiếng nói của văn nghệ chi tiết.

Giải câu 1 (Trang 17 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Bài nghị luận này phân tích nội dung phản ánh, thể hiện của văn nghệ, khẳng định sức mạnh lớn lao của nó đối với đời sống con người. Hãy tóm tắt hệ thống luận điểm và nhận xét về bố cục của bài nghị luận.

Trả lời:

Bài viết có bố cục khá chặt chẽ, được thể hiện qua hệ thống luận điểm lô gích, mạch lạc. Giữa các luận điểm vừa có sự tiếp nối tự nhiên vừa bổ sung, giải thích cho nhau:

– Văn nghệ không chỉ phản ánh thực tại khách quan mà còn là nhận thức mới mẻ, là tư tưởng, tình cảm của cá nhân nghệ sĩ.

– Tiếng nói của văn nghệ rất cần thiết với cuộc sống của con người, nhất là trong hoàn cảnh những năm đầu kháng chiến.

– Văn nghệ có khả năng cảm hoá, có sức lôi cuốn thật kỳ diệu bởi đó là tiếng nói của tình cảm, tác động tới con người qua những rung cảm sâu xa.

Giải câu 2 (Trang 17 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Nội dung phản ánh, thể hiện của văn nghệ là gì?

Trả lời:

Nội dung chủ yếu của văn nghệ là hiện thực mang tính cụ thể, sinh động, là đời sống tình cảm của con người qua cái nhìn và tình cảm của người nghệ sĩ. Khác với các bộ môn khoa học như dân tộc học, xã hội học, lịch sử học, triết học… thường khám phá, miêu tả và đúc kết các bộ mặt tự nhiên hay xã hội thành những quy luật khách quan, văn nghệ tập trung khám phá, thể hiện chiều sâu cuộc sống trong các quan hệ, khám phá tính cách, số phận con người. Nội dung của văn nghệ được thể hiện chủ yếu qua những đặc điểm sau:

– Tác phẩm nghệ thuật phản ánh đời sống khách quan nhưng đó không phải là sự sao chép giản đơn, “chụp ảnh” nguyên xi thực tại. Trong sự phản ánh của văn nghệ có cách nhìn, cách đánh giá cuộc sống, đồng thời đó cũng là tư tưởng, là tấm lòng của người nghệ sĩ gửi gắm trong đó.

– Tác phẩm văn nghệ có tính giáo dục, tác động mạnh mẽ đến người đọc nhưng đó không phải là những lời thuyết lý khô khan mà ngược lại, khả năng tác động của văn nghệ bắt nguồn từ những tình cảm sâu sắc, những say sưa, vui buồn, yêu ghét… của người nghệ sĩ. Nó khiến ta rung động trước những vẻ đẹp của cuộc sống, từ đó làm thay đổi tư tưởng, tình cảm, thậm chí cả quan điểm sống, lối sống của ta.

– Nội dung của văn nghệ còn là những rung cảm, nhận thức của từng người tiếp nhận, được mở rộng, lan truyền từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Giải câu 3 (Trang 17 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Tại sao con người cần tiếng nói vủa văn nghệ?

Trả lời:

Qua các dẫn chứng được lấy từ các tác phẩm, qua những câu chuyện cụ thể, sinh động, Nguyễn Đình Thi đã phân tích một cách thấm thía sự cần thiết của văn nghệ đối với con người:

– Văn nghệ giúp chúng ta sống đầy đủ hơn, phong phú hơn trên phương diện tinh thần.

– Trong những trường hợp con người bị ngăn cách đối với đời sống, văn nghệ là sợi dây liên hệ giữa người đó với thế giới bên ngoài.

– Văn nghệ góp phần làm cho đời sống của chúng ta ngày càng đẹp đẽ, đáng yêu hơn. Một tác phẩm văn nghệ hay giúp con người cảm thấy yêu tin cuộc sống, biết rung cảm và ước mơ trước cái đẹp.

Giải câu 4 (Trang 17 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Tiếng nói của văn nghệ đến với người đọc bằng cách nào mà có khả năng kì diệu đến vậy? (Tư tưởng, nội dung của văn nghệ được thể hiện bằng hình thức nào? Tác phẩm nghệ thuật tác động đến người đọc qua con đường nào, bằng cách gì?)

Trả lời:

Văn nghệ tác động đến con người qua nội dung của nó và đặc biệt là còn đường mà nó đến với người đọc, người nghe:

– Tình cảm là một yếu tố then chốt của văn nghệ. Dù phản ánh cuộc sống nào thì một tác phẩm lớn luôn chan chứa những tình cảm sâu xa của người viết. Không có những tình cảm sâu sắc, mãnh liệt đối với đời sống, một tác phẩm dù đề cập đến những vấn đề rộng lớn đến đâu cũng sẽ trở nên vô nghĩa, ngay cả đối với bản thân người sáng tác.

– Sự tác động của văn nghệ đối với con người chủ yếu cũng qua con đường tình cảm. Những xúc cảm, tâm sự của tác giả đối với đời sống làm lay động cảm xúc của người đọc, người nghe. Bạn đọc được sống cuộc sống mà nhà văn miêu tả, được yêu, ghét, vui, buồn cùng các nhân vật trong đó, dần dần thay đổi suy nghĩ, quan niệm về đời sống, thậm chí thay đổi cả cách ứng xử đối với những người xung quanh. Văn nghệ khiến cho ta cảm thấy yêu cuộc sống hơn, đồng thời muốn đóng góp công sức của mình để làm cho cuộc sống ngày càng đẹp hơn.

Giải câu 5 (Trang 17 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Nêu vài nét đặc sắc trong nghệ thuật nghị luận của Nguyễn Đình Thi qua bài tiểu luận này (cách bố cục, dẫn dắt vấn đề, cách nêu và chứng minh các luận điểm, sự kết hợp giữa nhận định, lí lẽ với dẫn chứng thực tế…).

Trả lời:

Những nét đặc sắc trong nghệ thuật lập luận của Nguyễn Đình Thi:

– Bố cục của văn bản rất chặt chẽ, hợp lí.

– Cách viết giàu hình ảnh với những dẫn chứng sinh động, hấp dẫn.

– Giọng văn thể hiện sự chân thành, niềm say sưa và nhiệt hứng dâng trào.

Soạn phần luyện tập bài Tiếng nói của văn nghệ

Giải câu hỏi – Luyện tập (Trang 17 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Nêu một tác phẩm văn nghệ mà em yêu thích và phân tích ý nghĩa, tác động của tác phẩm ấy đối với mình.

Trả lời:

Gợi ý trả lời:

Bài viết cần đảm bảo các ý sau:

+ Giới thiệu tác phẩm văn nghê (tên tác phẩm, của tác giả nào, đất nước nào,…).

+ Phân tích ý nghĩa của tác phẩm văn nghệ ấy.

+ Tác động của tác phẩm ấy đối với bản thân em.

Đoạn văn gợi ý:

Trong các tác phẩm đã đọc, em ấn tượng nhất với truyện “Chuyện người con gái Nam Xương”, trích “Truyền kì mạn lục” của tác giả Nguyễn Dữ. Tác phẩm này có ý nghĩa rất sâu sắc và để lại nhiều suy ngẫm cho bản thân em. “Chuyện người con gái Nam Xương” kể về số phận bi kịch, oan ức của người con gái đẹp người đẹp nết là Vũ Nương. Nàng đã phải tự vẫn vì tính đa nghi, ghen tuông mù quáng của chồng. Tác phẩm này là tiếng nói tố cáo chế độ phong kiến nam quyền hà khắc chà đạp lên số phận những người phụ nữ tội nghiệp. Nhưng quan trọng hơn, tác giả đã thông qua câu chuyện này để thể hiện ước mơ của nhân dân ta về đạo lí, lẽ phải trong xã hội: người trong sạch, tốt đẹp sẽ được rửa oan, được đền đáp xứng đáng. Sau khi đọc câu chuyện này, em thấy xót thương cho số phận những người phụ nữ trong xã hội phong kiến đồng thời nhận ra được một bài học đáng giá trong cuộc sống: trước khi phán xét một người khác, phải xem xét kĩ vấn đề từ nhiều phía, không mù quáng chủ quan để tránh gây ra tổn thương, nỗi đau cho người khác và cho chính bản thân mình.

Tham khảo thêm cách soạn khác bài Tiếng nói của văn nghệ

I. Đọc hiểu văn bản

Câu 1. Bài nghị luận này phân tích nội dung phản ánh, thể hiện của văn nghệ, khẳng định sức mạnh lớn lao của nó đối với đời sống con người. Hãy tóm tắt hệ thống luận điểm và nhận xét về bố cục của bài nghị luận.

Trả lời:

Hệ thống luận điểm:

– Luận điểm 1: Nội dung phản ánh hiện thực

– Luận điểm 2: Tiếng nói của văn nghệ rất cần thiết đối với người đọc

– Luận điểm 3: Con đường đến với người đọc của văn nghệ.

Bố cục văn bản rõ ràng, chặt chẽ, hợp lí.

Câu 2. Nội dung phản ánh, thể hiện của văn nghệ là gì?

Trả lời:

– Là hiện thực mang tính cụ thể, sinh động, là đời sống tình cảm của con người qua cái nhìn và tình cảm của người nghệ sĩ.

– Phản ánh đời sống khách quan có cách nhìn, cách đánh giá cuộc sống, đồng thời đó cũng là tư tưởng, là tấm lòng của người nghệ sĩ gửi gắm trong đó.

– Có tính giáo dục, tác động mạnh mẽ đến con người làm thay đổi tư tưởng tình cảm, lối sống của bạn đọc.

– Nội dung của văn nghệ còn là những rung cảm, nhận thức của từng người tiếp nhận, được mở rộng, lan truyền từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Câu 3. Tại sao con người cần tiếng nói vủa văn nghệ?

Trả lời:

– Văn nghệ giúp chúng ta sống đầy đủ hơn, phong phú hơn trên phương diện tinh thần.

– Trong những trường hợp con người bị ngăn cách đối với đời sống, văn nghệ là sợi dây liên hệ giữa người đó với thế giới bên ngoài.

– Văn nghệ góp phần làm cho đời sống của chúng ta ngày càng tươi đẹp và đáng sống hơn. Tác phẩm văn nghệ hay là tác phẩm giúp con người cảm thấy yêu tin cuộc sống, biết rung cảm và ước mơ trước cái đẹp.

Câu 4. Tiếng nói của văn nghệ đến với người đọc bằng cách nào mà có khả năng kì diệu đến vậy? (Tư tưởng, nội dung của văn nghệ được thể hiện bằng hình thức nào? Tác phẩm nghệ thuật tác động đến người đọc qua con đường nào, bằng cách gì?)

Trả lời:

Văn nghệ đến với con người bằng nội dung của nó và con đường mà nó đi:

– Tình cảm là yếu tố quan trọng then chốt, vì bởi lẽ nên không có tình cảm thì bất cứ tác phẩm nào cũng rất khô khan, không có hồn. Khi phản ánh bất cứ một vấn đề nào, tình cảm vẫn luôn là thứ đem cảm xúc của tác giả tới với bạn đọc và cũng là thứ dẫn dắt tác giả.

– Tình cảm cũng là yếu tố tác động mạnh mẽ tới bạn đọc, nó ảnh hưởng tới tư tưởng, tình cảm của bạn đọc. Nó lay động cảm xúc của bản đọc: yêu, ghét, giận, buồn… Nó cũng làm thay đổi những suy nghĩ và tư tưởng của bạn đọc.

Câu 5. Nêu vài nét đặc sắc trong nghệ thuật nghị luận của Nguyễn Đình Thi qua bài tiểu luận này (cách bố cục, dẫn dắt vấn đề, cách nêu và chứng minh các luận điểm, sự kết hợp giữa nhận định, lí lẽ với dẫn chứng thực tế…).

Trả lời:

Đặc sắc nghệ thuật trong văn nghị luận của Nguyễn Đình Thi:

– Bố cục của văn bản rất chặt chẽ, hợp lý, mọi vấn đề đều được dẫn dắt tự nhiên.

– Cách viết giàu hình ảnh với những dẫn chứng sinh động, hấp dẫn, cả trong văn chương cũng như trong đời sống.

– Thể hiện giọng văn chân thành, say sưa, thể hiện những xúc cảm mạnh mẽ của người viết.

Soạn phần luyện tập bài Tiếng nói của văn nghệ trang 17 SGK ngữ văn 9 tập 2

Nêu một tác phẩm văn nghệ mà em yêu thích và phân tích ý nghĩa, tác động của tác phẩm ấy đối với mình.

Trả lời:

(Đây là ví dụ, học sinh có thể tự hoàn thiện theo ý tưởng của mình)

Tác phẩm “Quê hương” của Đỗ Trung Quân, là một trong những bài thơ mà em thích nhất. Sau khi đọc bài thơ, em lại càng cảm thấy yêu thêm quê hương, yêu đất nước với vẻ đẹp mộc mạc, giản dị và đơn sơ nhưng gần gũi nhất. Đồng thời, em nhận ra ý nghĩa của quê hương đối với mỗi con người.

(BAIVIET.COM)