Soạn bài – Nhân vật giao tiếp

Soạn bài Nhân vật giao tiếp trang 18 – 22 SGK ngữ văn lớp 12 tập 2. Để học tốt hơn danh sách các bài tập trong bài Nhân vật giao tiếp, sau đây là hướng dẫn soạn bài đầy đủ, ngắn gọn và chi tiết nhất.

Hướng dẫn soạn bài – Nhân vật giao tiếp

Giải câu 1 (Trang 18 SGK ngữ văn 12 tập 2)

Đọc đoạn trích trong SGK và phân tích theo các câu hỏi nêu ở dưới.

a) Trong hoạt động giao tiếp trên, các nhân vật giao tiếp có đặc điểm như thế nào về lứa tuổi, giới tính, tầng lớp xã hội?

b) Các nhân vật giao tiếp chuyển đổi vai người nói, vai người nghe và luân phiên lượt lời ra sao? Lượt lời đầu tiên của nhân vật “thị” hướng tới ai?

c) Các nhân vật giao tiếp trên có bình đẳng về vị thế xã hội không?

d) Họ có quan hệ xa lạ hay thân tình khi bắt đầu cuộc giao tiếp?

e) Những đặc điểm về vị thế xã hội, quan hệ thân sơ, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp,… chi phối lời nói của các nhân vật như thế nào? (Chú ý cách xưng hô, cách nói năng và những điệu bộ, cử chỉ phụ trợ cho lời nói của các nhân vật.)

Trả lời:

a) Hoạt động giao tiếp trên có những nhân vật giao tiếp là: Tràng, mấy cô gái và “thị”. Những nhân vật đó có đặc điểm:

– Về lứa tuổi: Họ đều là những người trẻ tuổi.

– Về giới tính: Tràng là nam, còn lại là nữ.

– Về tầng lớp xã hội: Họ đều là những người dân lao động nghèo đói.

b) Các nhân vật giao tiếp chuyển đổi vai người nói, vai người nghe và luân phiên lượt lời như sau:

soan bai - nhan vat giao tiep - giai cau 1

– Lượt lời đầu tiên của “thị” là hướng tới Tràng.

c) Các nhân vật giao tiếp đều bình đẳng về vị thế xã hội.

d) Lúc đầu quan hệ còn xa lạ nhưng sau đó họ nhanh chóng trở nên thân tình vì cùng lứa tuổi, cùng vị thế xã hội.

e) Những đặc điểm đó chi phối lời nói của các nhân vật giao tiếp.

– Ban đầu: chưa quen => trêu đùa, thăm dò

– Quen rồi: mạnh dạn hơn.

– Cùng lứa tuổi, cảnh ngộ => sau đó giao tiếp rất suồng sã.

Giải câu 2 (Trang 18 SGK ngữ văn 12 tập 2)

Đọc đoạn trích trong SGK và phân tích theo các câu hỏi nêu ở dưới.

a) Trong đoạn trích trên có những nhân vật giao tiếp nào? Trường hợp nào bá Kiến nói với một người nghe, trường hợp nào nói với nhiều người nghe?

b) Vị thế của bá Kiến so với từng người nghe như thế nào? Điều đó chi phối cách nói và lời nói của bá Kiến ra sao?

c) Đối với Chí Phèo, bá Kiến đã thực hiện một chiến lược giao tiếp như thế nào? Hãy phân tích cụ thể chiến lược đó theo các bước sau đây:

(1) Bá Kiến tìm cách đuổi hết mọi người về, chỉ đối thoại với riêng Chí Phèo. (Đuổi như thế nào và đuổi để làm gì?)

(2) Bá Kiến “hạ nhiệt” cơn tức giận của Chí Phèo bằng cả hành động và lời nói. (Chú ý cách nói, từ xưng hô, nội dung lời nói.)

(3) Bá Kiến nâng vị thế của Chí Phèo lên ngang hàng với mình (chú ý từ xưng hô, cách nói trống, cách dùng ngôi gộp) và nhận Chí Phèo là có họ hàng.

(4) Bá Kiến kết tội lí Cường và yêu cầu lí Cường phải tiếp đón Chí Phèo. (Kết tội như thế nào? Mục đích của việc làm này là gì?)

d) Với chiến lược giao tiếp như trên, bá Kiến có đạt được mục đích và hiệu quả giao tiếp không? Những người nghe trong cuộc hội thoại với bá Kiến có phản ứng như thế nào khi nghe những lời nói của bá Kiến?

Trả lời:

a) Trong đoạn trích trên có những nhân vật giao tiếp là:

– Bá Kiến

– Mấy bà vợ Bá Kiến

– Bọn người làng

– Chí Phèo

– Lí Cường

Bá Kiến nói với một người nghe là: Chí Phèo, Lí Cường; nói với nhiều người nghe là: mấy bà vợ, dân làng.

b) Vị thế của Bá Kiến:

– Với mấy bà vợ: BK là chồng => quát đuổi về

– Với dân làng: là cụ lớn, thuộc tầng lớp trên => nói có vẻ tôn trọng, giọng cũng dịu lại (thực chất là đuổi khéo)

– Với Lí Cường: là cha => quát đuổi con, thực chất để xoa dịu Chí Phèo.

– Với Chí Phèo: vừa là chủ cũ vừa là người đẩy Chí Phèo vào tù => vừa thăm dò, vừa dỗ dành.

c) Sau khi ở tù về, Chí Phèo đến nhà Bá Kiến với ý định trả thù. Bá Kiến đi vắng nên xảy ra xô xát với Lí Cường, vừa lúc đó thì Bá Kiến về. Nhìn qua một lượt, Bá Kiến hiểu rõ cơ sự liền tung ta chiến lược đẹp yên sự vụ có thể gieo tai họa lên gia đình hắn. Trong những lời thoại trên Bá Kiến sắp xếp lần lượt các lời thoại để tấn công hạ gục Chí Phèo.

– Bá Kiến tìm cách đuổi hết mọi người vừa để tránh to chuyện vừa cô lập Chí Phèo. Chí Phèo cảm thấy đơn độc, nhuệ khí tan dần theo hơi rượu.

– Bá Kiến đã vuốt giận Chí Phèo bằng lời lẽ ngọt ngào và cách xưng hô tâng bốc: Anh Chí ơi! Rồi thân mật: cái anh này, tiếp đến là cách xưng hô như người trong nhà với ngôi thứ nhất số nhiều: ta (để phân biệt với người ngoài). Bên cạnh cách xưng hô là những lời nói nhẹ nhàng, khích lệ, động viên và hành động như người quen thân lâu ngày mới gặp.

– Để Chí Phèo không xem là đối địch, Bá Kiến đã nhận Chí Phèo là người nhà, là họ hàng. Cách nâng vị thế giao tiếp làm cho Chí Phèo hãnh diện vì được ngang hàng với gia đình danh giá nhất làng, chẳng mấy chốc hắn quên mất ý định ban đầu.

– Đòn cuối cùng Bá Kiến mắng Lí Cường với giọng đắc thắng là để tôn Chí Phèo và Bá Kiến đã được mục đích dập tắt ngọn lửa căm thù trong lòng Chí Phèo, bóp chết ý định trả thù của Chí trong trứng nước.

d) Bá Kiến đạt được mục đích và hiệu quả giao tiếp:

– Những người nghe trong cuộc hội thoại đều răm rắp nghe lời Bá Kiến.

– Chí Phèo hung hãn khi đến nhưng cuối cùng cũng bị khuất phục, thấy lòng nguôi nguôi …

Soạn phần luyện tập bài Nhân vật giao tiếp

Giải câu 1 – Luyện tập (Trang 21 SGK ngữ văn 12 tập 2)

Phân tích sự chi phối của vị thế xã hội ở các nhân vật đối với lời nói của họ trong đoạn trích sau:

Anh Mịch nhăn nhó, nói:

– Lạy ông, ông làm phúc tha cho con, mai con phải đi làm trừ nợ cho ông nghị, kẻo ông ấy đánh chết.

Ông lí cau mặt, lắc đầu, giơ roi song to bằng ngón chân cái lên trời, dậm dọa:

– Kệ mày, theo lệnh quan, tao chiếu sổ đinh, thì lần này đến lượt mày rồi.

– Cắn cỏ con lạy ông trăm nghìn mớ lạy, ông mà bắt con đi thì ông nghị ghét con, cả nhà con khổ.

– Thì mày hẹn làm ngày khác với ông ấy, không được à?

– Đối với ông nghị, con là chỗ đầy tớ, con sợ lắm. Con không dám nói sai lời, vì là chỗ con nhờ vả quanh năm. Nếu không, vợ con con chết đói.

– Chết đói hay chết no, tao đây không biết, nhưng giấy quan đã sức, tao cứ phép tao làm. Đứa nào không tuân, để quan gắt, tao trình thì rũ tù.

– Lạy ông, ông thương phận nào con nhờ phận ấy.

– Mặc kệ chúng bay, tao thương chúng bay, nhưng ai thương tao. Hôm ấy mày mà không đi, tao sai tuần đến gô cổ lại, đừng kêu.

(Nguyễn Công Hoan, Tinh thần thể dục)

Trả lời:

Hai nhân vật gián tiếp là anh Mịch, một người nông dân là lí trưởng, kẻ chức sắc có quyền thế trong làng.

Anh Mịch:

– Vị thế xã hội: Kẻ dưới – nạn nhân bị bắt đi xem đá bóng.

– Lời nói: Van xin, nhún nhường (gọi ông, xưng con, lạy…)

Ông Lí:

– Vị thế xã hội: Bề trên – thừa lệnh quan bắt người đi xem đá bóng.

– Lời nói: Hách dịch, quát nạt (xưng hô mày tao, quát, câu lệnh…)

Giải câu 2 – Luyện tập (Trang 21 SGK ngữ văn 12 tập 2)

Phân tích mối quan hệ giữa đặc điểm về vị thế xã hội, nghề nghiệp, giới tính, văn hóa,… của các nhân vật giao tiếp với đặc điểm trong lời nói của từng người ở đoạn trích sau:

Bỗng dưng tất cả dừng lại, dưới cây đũa thần, hay đúng hơn dưới ngọn roi gân bò mà viên đội sếp Tây vừa vung lên vừa quát tháo: “Cái giống tởm nhà mày! Có cút đi không, cái giống tởm!” Thế là cái đám đông lúc nhúc đứng sắp hàng, vừa yên lại vừa lặng, hai bên lề đường. Gì thế nhỉ? Xe ô tô quan Toàn quyền sắp đi qua đấy… Xe kia rồi! Lại cả ông Toàn quyền đây rồi!

– Quan có cái mũ hai sừng trên chóp sọ! – Một chú bé con thầm thì.

– Ồ! Cái áo dài đẹp chửa! – Một chị con gái thốt ra.

– Ngài sắp diễn thuyết đấy! – Một anh sinh viên kêu lên.

– Đôi bắp chân ngài bọc ủng! – Một bác cu-li xe thở dài.

– Rậm râu, sâu mắt! – Một nhà nho lẩm bẩm.

Thế là ô tô ông Va-ren chạy qua giữa hai hàng rào con người, lưng khom lại khi ngài đến gần.

(Nguyễn Ái Quốc, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu)

Trả lời:

– Viên đội sếp Tây: vị thế xã hội là người có quyền thế, nghề nghiệp cảnh sát, giới tính là nam, văn hóa kém cỏi vì lời thoại vừa hống hách vừa có thái độ phân biệt chủng tộc.

– Nhân vật đám đông: vị thế xã hội thấp, văn hóa cũng thấp nên lời thoại mang tính hiếu kì.

– Chú bé con còn ngây thơ nên chỉ chú ý chi tiết lạ mắt của viên Toàn quyền và chỉ nhìn đối tượng ở bên ngoài.

– Chị con gái, tuổi hồn nhiên, thích làm đẹp nên chỉ quan tâm đến trang phục.

– Anh sinh viên là người có trình độ văn hóa, quan tâm đến hoạt động xã hội và chính trị nên nghĩ đến việc làm của viên Toàn quyền.

– Bác cu-li xe vất vả với nghề nghiệp của mình, văn hóa còn thấp nên nhìn đối tượng có liên quan đến chuyện miếng cơm manh áo của mình.

– Nhà nho học vấn uyên thâm nên có cái nhìn sâu sắc: nhìn bên ngoài có thể đánh giá bản chất bên trong của đối tượng.

Nhận xét chung: Lời thoại của nhân vật giao tiếp thường phản ánh trình độ học vấn, văn hóa, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp của nhân vật đó.

Giải câu 3 – Luyện tập (Trang 22 SGK ngữ văn 12 tập 2)

Đọc đoạn trích trong SGK và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới.

a) Bà lão hàng xóm và chị Dậu có vị thế và có quan hệ với nhau như thế nào? Điều đó chi phối lời nói và cách nói của hai người đối với nhau ra sao? (Chú ý các từ xưng hô, từ gọi đáp và nội dung lời nói của hai nhân vật,…)

b) Phân tích sự tương tác về hành động nói giữa lượt lời của hai nhân vật giao tiếp trong đoạn trích.

Mẫu: hỏi thăm – cảm ơn.

c) Lời nói và cách nói của các nhân vật cho thấy tính cách và cách ứng xử của hai người có những nét văn hóa đáng trân trọng như thế nào?

Trả lời:

a) Quan hệ giữa bà lão hàng xóm và chị Dậu là quan hệ hàng xóm láng giềng thân tình.

Điều đó chi phối lời nói và cách nói của 2 người – thân mật:

– Bà lão: bác trai, anh ấy, …

– Chị Dậu: cảm ơn, nhà cháu, cụ, …

b) Sự tương tác về hành động ngôn ngữ giữa các lượt lời:

– Hỏi thăm – cảm ơn

– Đề nghị – lĩnh hội

– Đề nghị – (đồng ý)

c) Đoạn hội thoại cho thấy cách ứng xử của hai nhân vật thân mật nhưng không suồng sã vì tính chất quan trọng của nội dung đề tài. Văn hóa ứng xử ấy rất đẹp, đáng trân trọng. Họ là những người nông dân giàu tình cảm và trách nhiệm.

Tham khảo thêm cách soạn khác bài Nhân vật giao tiếp

Câu 1. Đọc đoạn trích trong SGK và phân tích theo các câu hỏi nêu ở dưới.

a) Trong hoạt động giao tiếp trên, các nhân vật giao tiếp có đặc điểm như thế nào về lứa tuổi, giới tính, tầng lớp xã hội?

b) Các nhân vật giao tiếp chuyển đổi vai người nói, vai người nghe và luân phiên lượt lời ra sao? Lượt lời đầu tiên của nhân vật “thị” hướng tới ai?

c) Các nhân vật giao tiếp trên có bình đẳng về vị thế xã hội không?

d) Họ có quan hệ xa lạ hay thân tình khi bắt đầu cuộc giao tiếp?

e) Những đặc điểm về vị thế xã hội, quan hệ thân sơ, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp,… chi phối lời nói của các nhân vật như thế nào? (Chú ý cách xưng hô, cách nói năng và những điệu bộ, cử chỉ phụ trợ cho lời nói của các nhân vật.)

Trả lời:

a) Đặc điểm của các nhân vật giao tiếp:

– Về lứa tuổi: cùng độ tuổi với nhau (thanh niên).

– Về giới tính: khác nhau.

– Về tầng lớp xã hội: đều là những người nông dân – những người làm thuê, cùng tầng lớp dưới của xã hội đương thời.

b) – Các nhân vật giao tiếp thường xuyên chuyển đổi vai nói và vai nghe, nghĩa là có sự luân phiên lượt lời: mấy cô gái chờ việc – thị – Tràng – thị.

– Lượt đầu tiên của nhân vật thị hướng đến hai đối tượng. Lượt lời này gồm hai câu:

+ Câu thứ nhất nói với mấy cô bạn: “Có khối cơm trắng mấy giò đấy”.

+ Câu thứ hai hướng đến nhân vật Tràng: “Này, nhà tôi ơi, nói thật hay nói khoác đấy”.

c) Các nhân vật giao tiếp trên bình đẳng về vị thế xã hội cùng độ tuổi, cùng tầng lớp xã hội).

d) Các nhân vật giao tiếp khi bắt đầu cuộc giao tiếp có quan hệ xa lạ với nhau.

– Sự chi phối lời nói nhân vật của các đặc điểm về vị thế xã hội, quan hệ thân sơ, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp,…

– Có vị thế xã hội bình đẳng, gần gũi nhau về độ tuổi nên các nhân vật nói năng suồng sã, vừa nói vừa cười như nắc nẻ…

– Do sự khác nhau về giới tính nên các cô gái gọi nhân vật Tràng là “anh”.

– Do xa lạ với nhau nên các nhân vật giao tiếp ít dùng các đại từ nhân xưng.

Câu 2. Đọc đoạn trích trong SGK và phân tích theo các câu hỏi nêu ở dưới.

a) Trong đoạn trích trên có những nhân vật giao tiếp nào? Trường hợp nào bá Kiến nói với một người nghe, trường hợp nào nói với nhiều người nghe?

b) Vị thế của bá Kiến so với từng người nghe như thế nào? Điều đó chi phối cách nói và lời nói của bá Kiến ra sao?

c) Đối với Chí Phèo, bá Kiến đã thực hiện một chiến lược giao tiếp như thế nào? Hãy phân tích cụ thể chiến lược đó theo các bước sau đây:

(1) Bá Kiến tìm cách đuổi hết mọi người về, chỉ đối thoại với riêng Chí Phèo. (Đuổi như thế nào và đuổi để làm gì?)

(2) Bá Kiến “hạ nhiệt” cơn tức giận của Chí Phèo bằng cả hành động và lời nói. (Chú ý cách nói, từ xưng hô, nội dung lời nói.)

(3) Bá Kiến nâng vị thế của Chí Phèo lên ngang hàng với mình (chú ý từ xưng hô, cách nói trống, cách dùng ngôi gộp) và nhận Chí Phèo là có họ hàng.

(4) Bá Kiến kết tội lí Cường và yêu cầu lí Cường phải tiếp đón Chí Phèo. (Kết tội như thế nào? Mục đích của việc làm này là gì?)

d) Với chiến lược giao tiếp như trên, bá Kiến có đạt được mục đích và hiệu quả giao tiếp không? Những người nghe trong cuộc hội thoại với bá Kiến có phản ứng như thế nào khi nghe những lời nói của bá Kiến?

Trả lời:

a) – Trong đoạn trích đã cho, có các nhân vật giao tiếp: bá Kiến, Chí Phèo.

– Những trường hợp bá Kiến nói với một người nghe:

+ Lượt lời 3 đến lượt lời 8, bá Kiến nói với một người nghe (Chí Phèo).

– Những trường hợp bá Kiến nói với nhiều người nghe:

+ Lượt lời 1 và 2, bá Kiến nói với nhiều người nghe (các bà vợ của hắn, dân làng).

+ Lượt lời thứ 9, hắn nói với hai người nghe (Chí Phèo và Lí Cường).

b) Vị thế xã hội của bá Kiến với từng người nghe:

– Với mấy bà vợ – bá Kiến là chồng (chủ gia đình) nên quát.

– Với dân làng: hắn là một người có uy hơn, là “cụ bá” nhưng trong đám ấy, độ tuổi không đều, có người nhỏ tuổi, cũng có người già cả. Bởi vậy, hắn nói “dịu giọng hơn một chút” nhưng thực chất là đuổi: “Về đi thôi chứ!Có gì mà xúm lại như thế này?

– Với Chí Phèo – bá Kiến vừa là ông chủ cũ, vừa là kẻ đẩy Chí Phèo vào tù, kẻ mà lúc này Chí Phèo đến “ăn vạ”. Bá Kiến vừa thăm dò, vừa dỗ dành, vừa đề cao, coi trọng.

– Với Lí Cường – Bá kiến là cha, cụ quát con nhưng thực chất để xoa dịu Chí Phèo.

c) Đối với Chí Phèo, bá Kiến đã thực hiện hành vi giao tiếp như sau:

– Bá Kiến tìm cách đuổi hết mọi người về, để đối thoại riêng với Chí Phèo.

– Dùng lời nói ngon ngọt, nhỏ nhẹ để hỏi han Chí Phèo.

– Nâng vị thế Chí Phèo lên ngang hàng với mình, tỏ ý coi trọng Chí, coi Chí như bạn bè.

– Bá Kiến kết tội lí Cường và yêu cầu lí Cường phải tiếp đón Chí Phèo, khiến Chí tưởng bá Kiến vì trọng mình mà mắng con cái, thậm chí bắt con tiếp đón mình.

d) Với chiến lược giao tiếp như vậy, bá Kiến đã đạt được mục đích giao tiếp, hiệu quả giao tiếp rất tốt. Những người nghe trong cuộc hội thoại với bá Kiến đều răm rắp nghe theo lời bá Kiến. Đến một kẻ hung hãn như Chí Phèo mà cuối cùng cũng bị khuất phục.

Soạn phần luyện tập bài Nhân vật giao tiếp trang 21, 22 SGK ngữ văn 12 tập 2

Bài 1. Phân tích sự chi phối của vị thế xã hội ở các nhân vật đối với lời nói của họ trong đoạn trích sau:

Anh Mịch nhăn nhó, nói:

– Lạy ông, ông làm phúc tha cho con, mai con phải đi làm trừ nợ cho ông nghị, kẻo ông ấy đánh chết.

Ông lí cau mặt, lắc đầu, giơ roi song to bằng ngón chân cái lên trời, dậm dọa:

– Kệ mày, theo lệnh quan, tao chiếu sổ đinh, thì lần này đến lượt mày rồi.

– Cắn cỏ con lạy ông trăm nghìn mớ lạy, ông mà bắt con đi thì ông nghị ghét con, cả nhà con khổ.

– Thì mày hẹn làm ngày khác với ông ấy, không được à?

– Đối với ông nghị, con là chỗ đầy tớ, con sợ lắm. Con không dám nói sai lời, vì là chỗ con nhờ vả quanh năm. Nếu không, vợ con con chết đói.

– Chết đói hay chết no, tao đây không biết, nhưng giấy quan đã sức, tao cứ phép tao làm. Đứa nào không tuân, để quan gắt, tao trình thì rũ tù.

– Lạy ông, ông thương phận nào con nhờ phận ấy.

– Mặc kệ chúng bay, tao thương chúng bay, nhưng ai thương tao. Hôm ấy mày mà không đi, tao sai tuần đến gô cổ lại, đừng kêu.

(Nguyễn Công Hoan, Tinh thần thể dục)

Trả lời:

Trong đoạn trích có hai nhân vật giao tiếp là anh Mịch và ông lí. Ông lí là người đứng đầu một làng trong xã hội phong kiến xưa và rất có quyền thế. Còn anh Mịch chỉ là một nông dân nghèo hèn, bị coi rẻ. Vị thế xã hội ấy đã chi phối sâu sắc đến việc giao tiếp của các nhân vật trong đoạn trích trên.

– Anh Mịch: điệu bộ đáng thương, tội nghiệp, xưng hô “ông – con”, cách dùng từ cũng tỏ ý hạ mình: “lạy” (được dùng đến 4 lần).

– Ông lí trưởng điệu bộ hách dịch, lạnh lùng, tàn nhẫn: “cau mặt, lắc đầu, roi… dậm dọa”; xưng hô bỗ bã “tao – mày”, câu nói cộc lốc, cụt ngủn, vô tình: “kệ mày”, “không được à?”, “mặc kệ chúng bay”…

Bài 2. Phân tích mối quan hệ giữa đặc điểm về vị thế xã hội, nghề nghiệp, giới tính, văn hóa,… của các nhân vật giao tiếp với đặc điểm trong lời nói của từng người ở đoạn trích sau:

Bỗng dưng tất cả dừng lại, dưới cây đũa thần, hay đúng hơn dưới ngọn roi gân bò mà viên đội sếp Tây vừa vung lên vừa quát tháo: “Cái giống tởm nhà mày! Có cút đi không, cái giống tởm!” Thế là cái đám đông lúc nhúc đứng sắp hàng, vừa yên lại vừa lặng, hai bên lề đường. Gì thế nhỉ? Xe ô tô quan Toàn quyền sắp đi qua đấy… Xe kia rồi! Lại cả ông Toàn quyền đây rồi!

– Quan có cái mũ hai sừng trên chóp sọ! – Một chú bé con thầm thì.

– Ồ! Cái áo dài đẹp chửa! – Một chị con gái thốt ra.

– Ngài sắp diễn thuyết đấy! – Một anh sinh viên kêu lên.

– Đôi bắp chân ngài bọc ủng! – Một bác cu-li xe thở dài.

– Rậm râu, sâu mắt! – Một nhà nho lẩm bẩm.

Thế là ô tô ông Va-ren chạy qua giữa hai hàng rào con người, lưng khom lại khi ngài đến gần.

(Nguyễn Ái Quốc, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu)

Trả lời:

Đoạn trích gồm các nhân vật giao tiếp:

– Viên đội xếp Tây.

– Đám đông.

– Quan Toàn quyền Pháp.

Mối quan hệ giữa đặc điểm về vị thế xã hội, nghề nghiệp, giới tính, văn hóa,… của các nhân vật giao tiếp với đặc điểm trong lời nói của từng người.

– Chú bé: trẻ con nên chú ý đến cái mũ, lời nói rất ngộ nghĩnh.

– Chị con gái: phụ nữ nên chú ý đến cách ăn mặc (cái áo dài) khen với vẻ thích thú.

– Anh sinh viên: đang học nên chú ý đến diễn thuyết, nói như một dự đoán chắc chắn.

– Bác cu li xe: chú ý đôi ủng.

– Nhà nho: dân lao động nên chú ý đến tướng mạo, nói bằng một câu thành ngữ thâm nho.

Bài 3. Đọc đoạn trích trong SGK và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới.

a) Bà lão hàng xóm và chị Dậu có vị thế và có quan hệ với nhau như thế nào? Điều đó chi phối lời nói và cách nói của hai người đối với nhau ra sao? (Chú ý các từ xưng hô, từ gọi đáp và nội dung lời nói của hai nhân vật,…)

b) Phân tích sự tương tác về hành động nói giữa lượt lời của hai nhân vật giao tiếp trong đoạn trích.

Mẫu: hỏi thăm – cảm ơn.

c) Lời nói và cách nói của các nhân vật cho thấy tính cách và cách ứng xử của hai người có những nét văn hóa đáng trân trọng như thế nào?

Trả lời:

a) Quan hệ giữa bà lão hàng xóm và chị Dậu là quan hệ hàng xóm láng giềng thân tình. Điều đó chi phối cách nói và cách nói của hai người – thân mật.

– Bà lão: bác trai, anh ấy,…

– Chị Dậu: cám ơn, nhà cháu, cụ,…

b) Sự tương tác về hành động nói giữa lượt lời của hai nhân vật giao tiếp: Hai nhân vật đổi vai luân phiên nhau.

c) Nét văn hóa đáng trân trọng qua lời nói, cách nói của các nhân vật: tình làng nghĩa xóm, bản chất đáng quý, đáng trọng của những người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng Tám 1945.

(BAIVIET.COM)