Soạn bài – Nghị luận về một hiện tượng đời sống

Soạn bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống trang 66 – 70 SGK ngữ văn lớp 12 tập 1. Để học tốt hơn danh sách các bài tập trong bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống, sau đây là hướng dẫn soạn bài đầy đủ, ngắn gọn và chi tiết nhất.

Hướng dẫn soạn bài – Nghị luận về một hiện tượng đời sống

Giải câu 1 (trang 66 – 67 SGK ngữ văn 12 tập 1)

1. Tìm hiểu đề và lập dàn ý

Đề bài:

Hãy bày tỏ ý kiến của mình về hiện tượng được nêu trong bài viết sau:

CHIA CHIẾC BÁNH CỦA MÌNH CHO AI?

Nếu coi thời gian một ngày của bạn là chiếc bánh tròn trịa, bạn sẽ chia chiếc bánh cho bố mẹ, cho công việc, cho gia đình bao nhiêu và dành cho mình bao nhiêu phần?

Trong khi không ít các bạn trẻ hiện nay đang lãng phí chiếc bánh của mình vào những trò chơi vô bổ thì chàng “thanh niên trẻ tiêu biểu Thành phố Hồ Chí Minh 2007” Nguyễn Hữu ân lại dành hết chiếc bánh thời gian của mình cho những người bệnh ung thư giai đoạn cuối.

Một câu chuyện lạ lùng…

(Theo Tạ Minh Phương, Báo điện tử Nguoiduongthoi.com.vn,

ngày 4 – 1 – 2007)

Gợi ý thảo luận:

a) Tìm hiểu đề:

– Đề bài yêu cầu bàn về hiện tượng gì?

– Bài viết cần có những ý nào? Sắp xếp các ý đó ra sao?

– Nên chọn những dẫn chứng nào?

– Cần vận dụng những thao tác lập luận nào?

b) Lập dàn ý:

Mở bài: Cần nêu những gì? Giới thiệu hiện tượng cần nghị luận như thế nào?

Thân bài:

– Tóm tắt những việc làm của Nguyễn Hữu ân. (Cần bám sát đề. Chú ý câu thứ hai “Trong khi… giai đoạn cuối”.)

– Phân tích: Hiện tượng Nguyễn Hữu ân có ý nghĩa gì, tiêu biểu cho những phẩm chất nào của thanh niên ngày nay? Có thể minh hoạ thêm một vài tấm gương thanh niên có nghĩa cử tương tự Nguyễn Hữu ân.

– Bình luận: Phê phán một vài hiện tượng tiêu cực trong lối sống “lãng phí chiếc bánh thời gian vào những trò chơi vô bổ” của thanh niên, học sinh,…

Kết bài: Bày tỏ suy nghĩ riêng của người viết.

Trả lời:

a) Tìm hiểu đề:

– Vấn đề nghị luận: cách sử dụng “chiếc bánh thời gian” của thanh niên hiện nay.

– Các dẫn chứng minh họa có thể lấy từ đời sống hoặc những tấm gương trong sách báo.

– Các thao tác lập luận: phân tích, chứng minh, bác bỏ, bình luận,…

b) Lập dàn ý:

– Mở bài: Giới thiệu hiện tượng cần nghị luận

– Thân bài:

+ Tóm tắt việc làm của Nguyễn Hữu Ân: anh dành hầu hết thời gian của mình cho những người bị ung thư giai đoạn cuối.

+ Phân tích hiện tượng Nguyễn Hữu Ân: thể hiện đức tính tốt đẹp, lối sống đẹp, có ích cho xã hội của thanh niên hiện nay. Hiện tượng này có ý nghĩa giáo dục rất lớn đối với thanh thiếu niên.

+ Biểu dương việc làm của Nguyễn Hữu Ân, khẳng định trong xã hội hiện nay có rất nhiều bạn trẻ cũng đã và đang có suy nghĩ đẹp, hành động và lối sống đẹp cho xã hội (dẫn chứng cụ thể bằng các tấm gương, các phong trào có ý nghĩa của thanh thiếu niên …)

+ Bên cạnh những thanh niên “người tốt việc tốt“, vẫn có một bộ phận thanh niên sống tiêu cực: vô cảm, lãng phí thời gian vào những trò chơi vô bổ…

– Kết bài: Bài học rút ra cho bản thân từ hiện tượng bàn luận.

Giải câu 2 (trang 67 SGK ngữ văn 12 tập 1)

Sau khi thảo luận, anh (chị) hiểu được những gì về cách làm bài nghị luận về một hiện tượng đời sống?

Trả lời:

– Nghị luận về một hiện tượng đời sống là bàn về một hiện tượng, một vấn đề có ý nghĩa đối với đời sống, xã hội.

– Bài nghị luận cần nêu rõ hiện tượng, phân tích mặt đúng – mặt sai, lợi – hại, chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến nhận định của người viết.

– Sử dụng thao tác lập luận phù hợp, cần chọn góc độ riêng để bàn luận nhằm nêu lên những suy nghĩ của riêng mình.

Soạn phần luyện tập bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống

Giải câu 1 – Luyện tập (Trang 67 – 68 SGK ngữ văn 12 tập 1)

Đọc văn bản sau rồi trả lời các câu hỏi nêu ở dưới.

[…] Thanh niên ta cũng cần biết là hiện nay có hơn hai nghìn thanh niên Trung Quốc trên đất Pháp và độ năm bạn ở châu âu và châu Mĩ. Hầu hết những thanh niên ấy đều đã tốt nghiệp Hán lan là tất cả đang là sinh triển – công nhân. Còn chúng ta, thì chúng ta có những sinh liên được học bổng và những sinh liên thường, nhờ ơn Nhà nước hay tiền của cha mẹ (hại thay, hai cái nguồn ấy lại không bao giờ cạn cả), mà đang dành một nửa thì giờ nào việc chơi bi-a, một nửa của nửa thì giờ còn lại để đến các chốn ăn chơi; số thì giờ còn lại, mà ít khi còn làm, thì để vào trường đại học hoặc trường trung học. Những sinh viên – công nhân Trung Quốc thì lại không có mục đích nào khác làm là nhằm thực sự chấn hưng nền kinh tế nước nhà và họ theo châm ngôn: “Sinh sống bằng lao động của bản thân và vừa học hỏi vừa lao động.

[…] Kiên trì, quyết tâm và đoàn kết như thế, các “ông chú trẻ tuổi” của chúng ta chắc chắn sẽ đạt mục đích. Với một đạo quân 50 000 công nhân dũng cám đáng khâm phục, lại được đào tạo trong kỉ luật và kĩ thuật hiện đại, thì không bao lâu nữa, Trung Quốc sẽ có một địa vị trong hàng các cường quốc công nghiệp là thương nghiệp thế giới.

Ở Đông Dương, chúng ta có đủ tất ca những cái mà một dân tộc có thể mong muốn như: hải cảng, hầm mỏ, đồng ruộng mênh mông, rừng rú bao la; chúng ta có những người lao động khéo léo và cần cù.

Nhưng chúng ta thiếu tổ chức và thiếu người tổ chức! Bởi thế công nghiệp và thương nghiệp của chúng ta là một con số không. Thế thì thanh niên của ta đang làm gì? Nói ra thì buồn, buồn lắm: Họ không làm gì cả. Những thanh niên không có phương tiện thì không dám rời quê nhà, những người có phương tiện thì lại chìm ngập trong sự biếng nhác; còn những kẻ đã xuất dương thì chỉ nghĩ đến diệc thoả mãn tính tò mò của tuổi trẻ mà thôi!

Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh.

(Nguyễn Ái Quốc, Gửi thanh niên An Nam, trong Thơ văn Hồ Chí Minh

(Tác phẩm chọn lọc dùng trong nhà trường), NXB Giáo dục, 2004)

Câu hỏi:

a) Trong văn bản trên, lãnh tụ Nguyễn ái Quốc bàn về hiện tượng gì trong đời sống? Hiện tượng ấy diễn ra trong thời gian nào?

b) Tác giả đã sử dụng những thao tác lập luận nào để bàn về hiện tượng nói trên? Nêu dẫn chứng và phân tích tác dụng của chúng.

c) Cách dùng từ, viết câu, diễn đạt độc đáo trong văn bản có tính thuyết phục cao ở những điểm nào? Phân tích một số ví dụ cụ thể để minh hoạ.

d) Anh (chị) rút ra những bài học gì cho bản thân sau khi đọc văn bản trên?

Trả lời:

a) Nội dung: Tác giả Nguyễn Ái Quốc bàn luận là hiện tượng thanh niên Việt Nam lúc bấy giờ (những năm 20 của thế kỉ XX): sống không có lí tưởng, mục đích, thiếu nghị lực, chí tiến thủ, chỉ viết vui chơi, hưởng thụ cá nhân mà không biết học tập cho bản thân, cho nước nhà, cho dân tộc. Ngày nay, hiên tượng đó không phải không có.

b) Các thao tác lập luận:

– Phân tích: mải chơi bời, không làm gì cả, sống già cỗi, thiếu tổ chức, rất nguy hại cho tương lai đất nước.

– So sánh: nêu hiện tượng thanh niên sinh viên Trung Hoa du học chăm chỉ, cần cù.

– Bác bỏ: “Thế thì thanh niên của chúng ta đang làm gì? Nói ra thì buồn, buồn lắm: Họ không làm gì cả”.

c) Cách viết của Nguyễn Ái Quốc rõ ràng, trong sáng, lập luận chặt chẽ, giọng văn tâm huyết, đầy thuyết phục.

d) Cần phải xác định lí tưởng sống, mục đích sống, thái độ học tập đúng đắn.

Giải câu 2 – Luyện tập (Trang 69 SGK ngữ văn 12 tập 1)

Anh (chị) suy nghĩ gì về hiện tượng “nghiện” ka-ra-ô-kê và in-tơ-nét trong nhiều bạn trẻ hiện nay?

Lập dàn ý cho bài viết của mình.

Trả lời:

a) Mở bài: Nêu vấn đề cần nghị luận, trích dẫn đề, nhận định chung.

b) Thân bài

– Giải thích vấn đề:

+ In – ter – net là một phương tiện thông tin bổ ích giúp cho con người – đặc biệt là sinh viên, học sinh có thể tra cứu những thông tin cho việc học tập.

+ Ka – ra – ô – kê là một loại hình giải trí lành mạnh, sinh viên sau những giờ làm việc và học tập căng thẳng.

– Thực trạng vấn đề:

+ Bên cạnh những lợi ích mà hai loại hình trên mang lại, ở nhiều bạn trẻ thì Ka- ra – ô – kê và in – ter – net vẫn bị lạm dụng và gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

+ Tình trạng nghiện đang là “phong trào” sôi nổi trong giới trẻ hiện nay.

– Nguyên nhân:

+ Chủ quan: Do ham chơi thiếu ý thức học tập…

+ Khách quan: Do bị bạn bè xấu rủ rê, lôi kéo, thiếu sự quan tâm của gia đình…

– Hậu quả:

+ Ảnh hưởng đến thời gia, sức khỏe, tiền bạc.

+ Ảnh hưởng xấu đến tác phong đạo đức, lối sống..

– Biện pháp giải quyết:

+ Cần phải có những biện pháp thích hợp.

+ Phụ huynh cần quan tâm tới con em nhiều hơn.

+ Nhà trường cần có các biện pháp kỉ luật.

+ Bản thân mỗi học sinh cần có ý thức…

– Liên hệ và mở rộng vấn đề.

c) Kết bài: Suy nghĩ của bản thân trước hiện tượng trên.

Tham khảo thêm cách soạn khác bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống

Câu 1. Tìm hiểu đề và lập dàn ý

Đề bài:

Hãy bày tỏ ý kiến của mình về hiện tượng được nêu trong bài viết sau:

CHIA CHIẾC BÁNH CỦA MÌNH CHO AI?

Nếu coi thời gian một ngày của bạn là chiếc bánh tròn trịa, bạn sẽ chia chiếc bánh cho bố mẹ, cho công việc, cho gia đình bao nhiêu và dành cho mình bao nhiêu phần?

Trong khi không ít các bạn trẻ hiện nay đang lãng phí chiếc bánh của mình vào những trò chơi vô bổ thì chàng “thanh niên trẻ tiêu biểu Thành phố Hồ Chí Minh 2007” Nguyễn Hữu ân lại dành hết chiếc bánh thời gian của mình cho những người bệnh ung thư giai đoạn cuối.

Một câu chuyện lạ lùng…

(Theo Tạ Minh Phương, Báo điện tử Nguoiduongthoi.com.vn,

ngày 4 – 1 – 2007)

Gợi ý thảo luận:

a) Tìm hiểu đề:

– Đề bài yêu cầu bàn về hiện tượng gì?

– Bài viết cần có những ý nào? Sắp xếp các ý đó ra sao?

– Nên chọn những dẫn chứng nào?

– Cần vận dụng những thao tác lập luận nào?

b) Lập dàn ý:

Mở bài: Cần nêu những gì? Giới thiệu hiện tượng cần nghị luận như thế nào?

Thân bài:

– Tóm tắt những việc làm của Nguyễn Hữu ân. (Cần bám sát đề. Chú ý câu thứ hai “Trong khi… giai đoạn cuối”.)

– Phân tích: Hiện tượng Nguyễn Hữu ân có ý nghĩa gì, tiêu biểu cho những phẩm chất nào của thanh niên ngày nay? Có thể minh hoạ thêm một vài tấm gương thanh niên có nghĩa cử tương tự Nguyễn Hữu ân.

– Bình luận: Phê phán một vài hiện tượng tiêu cực trong lối sống “lãng phí chiếc bánh thời gian vào những trò chơi vô bổ” của thanh niên, học sinh,…

Kết bài: Bày tỏ suy nghĩ riêng của người viết.

Trả lời:

a) Tìm hiểu đề:

– Hiện tượng: việc làm của anh Nguyễn Hữu Ân – vì tình thương “dành hết chiếc bánh thời gian của mình” – chăm sóc cho mẹ và những người bị bệnh hiểm nghèo.

– Những ý chính cần có:

+ Nguyễn Hữu Ân đã nêu một tấm gương sáng về lòng hiếu thảo, vị tha, đức hi sinh của thanh niên.

+ Lấy dẫn chứng về những tấm gương sáng về lòng vị tha: thế hệ ngày nay có nhiều tấm gương như Nguyễn Hữu Ân.

+ Bên cạnh đó, vẫn còn một số lối sống ích kỷ, vô tâm của một số thanh niên…

+ Dẫn chứng: Từ thực thế cuộc sống.

+ Cần vận dụng các thao tác: phân tích, chứng minh, bác bỏ, bình luận.

b) Lập dàn ý:

* Mở bài: Giới thiệu hiện tượng Nguyễn Hữu Ân rồi dẫn đề văn, nêu vấn đề “chia chiếc bánh mì của mình cho ai ?”

* Thân bài:

– Tóm tắt hiện tượng Nguyễn Hữu Ân.

– Phân tích hiện tượng.

– Ý nghĩa, bài học rút ra.

– Mở rộng vấn đề.

* Kết bài: Bày tỏ suy nghĩ riêng của mình.

Câu 2. Sau khi thảo luận, anh (chị) hiểu được những gì về cách làm bài nghị luận về một hiện tượng đời sống?

Trả lời:

– Bài nghị luận về một hiện tượng đời sống thường có các nội dung: nêu rõ hiện tượng, phân tích các mặt đúng – sai, lợi – hại, chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện tượng xã hội đó.

– Diễn đạt cần cần chuẩn xác, có thể sử dụng một số phép tu từ và yếu tố biểu cảm, nhất là phần nêu cảm nghĩ riêng.

Soạn phần luyện tập bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống (trang 67 – 70 SGK ngữ văn 12 tập 1)

Bài 1. Đọc văn bản trang 67 – 68 SGK ngữ văn 12 tập 1 rồi trả lời các câu hỏi nêu ở dưới.

Câu hỏi:

a) Trong văn bản trên, lãnh tụ Nguyễn ái Quốc bàn về hiện tượng gì trong đời sống? Hiện tượng ấy diễn ra trong thời gian nào?

b) Tác giả đã sử dụng những thao tác lập luận nào để bàn về hiện tượng nói trên? Nêu dẫn chứng và phân tích tác dụng của chúng.

c) Cách dùng từ, viết câu, diễn đạt độc đáo trong văn bản có tính thuyết phục cao ở những điểm nào? Phân tích một số ví dụ cụ thể để minh hoạ.

d) Anh (chị) rút ra những bài học gì cho bản thân sau khi đọc văn bản trên?

Trả lời:

a) Nội dung của văn bản: Tác giả Nguyễn Ái Quốc bàn luận là hiện tượng sự lãng phí thời gian của thanh niên Việt Nam lúc bấy giờ (những năm 20 của thế kỉ XX): sống không có lí tưởng, mục đích, thiếu nghị lực, chỉ viết vui chơi, hưởng thụ cá nhân mà không biết học tập và lao động cho bản thân, cho nước nhà, cho dân tộc

b) Các thao tác lập luận gồm so sánh, phân tích, bình luận.

c) Cách viết của Nguyễn Ái Quốc rõ ràng, trong sáng, lập luận chặt chẽ, giọng văn tâm huyết, đầy thuyết phục.

Ví dụ trong đoạn mở đầu văn bản: “Thanh niên ta cũng cần biết là hiện nay có hơn hai nghìn thanh niên Trung Quốc trên đất Pháp và độ năm vạn ở châu Âu và châu Mỹ. Hầu hết những thanh niên ấy đều đã tốt nghiệp Hán văn và tất cả đang là sinh viên – công nhân. Còn chúng ta, thì chúng ta có những sinh viên được học bổng và những sinh viên thường, nhờ ơn nhà nước hay tiền của cha mẹ (hại thay, hai cái nguồn ấy lại không bao giờ cạn cả), mà đang dành một nửa thì giờ vào các việc… chơi bi a, một nửa của nửa thì giờ còn lại để đến các chốn ăn chơi; số thì giờ còn lại, mà ít khi còn lắm, thì để vào trường đại học hoặc trường trung học. Nhưng sinh viên – công nhân Trung Quốc thì lại không có mục đích nào khác hơn là nhằm thực sự chấn hưng nền kinh tế nước nhà và họ theo châm ngôn: “Sinh sống bằng lao động của bản thân và vừa học hỏi vừa lao động”

Nguyễn Ái Quốc đã dùng thao tác so sánh để thấy sự khác biệt giữa sinh viên Trung Quốc và sinh viên Việt Nam, họ sống có mục đích và lí tưởng cao đẹp còn sinh viên của ta chỉ ham thú những trò vui mà quên đi nhiệm vụ học tập. Giọng văn của Người thể hiện sự phê phán thẳng thắn, nhìn thẳng vào sự thật.

d) Qua văn bản trên, Hồ Chí Minh đã nhắc nhở thế hệ trẻ Việt Nam – những chủ nhân tương lai của đất nước cần biết xác định mục tiêu và lí tưởng sống cho mình. Đam mê những trò vui, mải mê hưởng thụ cá nhân để rồi quên đi nhiệm vụ học tập và lao động. Thời gian tuổi trẻ cần có nghị lực, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn và ra sức phấn đấu để đạt được mục tiêu của mình. Đất nước phát triển hay thụt lùi đó chính là nhờ vào thế hệ trẻ. Đó chính là những tâm huyết, suy nghĩ của Bác dành cho thế hệ thanh niên Việt Nam

Bài 2. Anh (chị) suy nghĩ gì về hiện tượng “nghiện” ka-ra-ô-kê và in-tơ-nét trong nhiều bạn trẻ hiện nay?

Lập dàn ý cho bài viết của mình.

Trả lời:

a) Mở bài: Nêu hiện tượng, trích dẫn đề, nhận định chung về vấn đề đó.

b) Thân bài

Giải thích về khái niệm Ka-ra-ô-kê và in-tơ-nét:

  • Karaoke là hình thức giải trí mang tính văn hóa, giúp ta giải bớt căng thẳng trong một ngày học tập làm việc mệt mỏi, vất vả. Đó còn là một cách thắt chặt tình thân giữa bạn bè, đồng nghiệp, người thân.
  • internet ngoài việc giải trí, còn cung cấp thêm nhiều kiến thức bổ ích, giúp ta tiếp cận được với kênh thông tin đa dạng, nhanh, tiện lợi. Đó cũng là cách nâng sự tiếp cận của con người với công nghệ hiện đại.

Lợi ích và tác hại:

  • Ham thích karaoke và internet cũng có mặt tích cực, giúp con người giải trí, tự học và tìm hiểu nhiều thông tin có ích một cách nhanh chóng. Chúng có lợi ích nếu như bạn có mục đích lành mạnh, tốt đẹp và biết sử dụng hợp lí thời gian.
  • Tác hại: cũng có người “nghiện”, ham thích quá thành tật xấu, bỏ bê việc học tập, thậm chí hư hỏng do không kiểm soát được ham thích của mình.

c) Kết bài

  • Nhận định lại vấn đề.
  • Rút ra bài học từ hiện tượng nghị luận.

(BAIVIET.COM)