Soạn bài – Ngắm trăng (Vọng nguyệt)

Soạn bài Ngắm trăng (Vọng nguyệt) trang 30 – 33 SGK ngữ văn lớp 8 tập 2, Để học tốt hơn danh sách các bài tập trong bài Ngắm trăng (Vọng nguyệt) – Hồ Chí Minh sau đây là hướng dẫn soạn bài đầy đủ, ngắn gọn và chi tiết nhất.

NGẮM TRĂNG
(Vọng nguyệt)

Phiên âm

Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,
Đối thử lương tiêu nại nhược hà?
Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khán thi gia.

Dịch nghĩa

Trong tù không rượu cũng không hoa,
Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào?
Người hướng ra trước song ngắm trăng sáng,
Từ ngoài khe cửa, trăng ngắm nhà thơ.

(Vọng: ngắm, nguyệt: trăng, ngục: nhà tù; trung: trong, vô: không, tửu: rượu, diệc: cũng, hoa: hoa, đối: đứng trước, đối với, hướng về, thử: này, lương: tốt lành, ở đây có nghĩa là đẹp, tiêu: đêm, nại nhược hà: biết làm thế nào, nhân: người, hướng: hướng về phía, song: cửa sổ, tiền: trước, trước khi, khán: xem, nhìn, minh: sáng, tòng: từ, theo, khích: khe , chỗ hở, thi gia: nhà thơ).

Dịch thơ (bản dịch của Nam Trân)

Trong tù không rượu cũng không hoa,
Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ;
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.

(Hồ Chí Minh, Nhật kí trong tù(*),
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000)

Chú thích:

(*) Tháng 8 – 1942, Hồ Chí Minh từ Pác Bó (Cao Bằng) bí mật lên đường sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ quốc tế cho cách mạng Việt Nam. Khi đến gần thị trấn Túc Vinh thì Người bị chính quyền địa phương ở đây bắt giữ, rồi bị giải tới giải lui gần 30 nhà giam của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, bị đày đọa cực khổ hơn một năm trời. Trong những ngày đó, Người đã viết Nhật kí trong tù bằng thơ chữ Hán, gồm 133 bài, phần lớn là thơ tứ tuyệt. Ngoài bài tập thơ, Người viết mấy câu đề từ:

Thân thể ở trong lao,
Tinh thần ở ngoài lao;
Muốn nên sự nghiệp lớn,
Tinh thần càng phải cao.

Tuy Bác Hồ viết Nhật kí trong tù chỉ để “ngâm ngợi cho khuây” trong khi đợi tự do, tập thơ vẫn cho thấy rõ tâm hồn cao đẹp, ý chí cách mạng phi thường và tài năng thơ xuất sắc của Người. Có thể nói Nhật kí trong tù là một viên ngọc quý trong kho tàng văn học dân tộc.

Hướng dẫn soạn bài – Ngắm trăng (Vọng nguyệt)

I. Hoàn cảnh sáng tác

Tháng 8-1942, Hồ Chí Minh từ Pác Bó (Cao Bằng) bí mật lên đường sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ quốc tế cho cách mạng Việt Nam, nhưng khi đến gần thị trấn Túc Vinh thì Người bị chính quyền địa phương ở đây bắt giữ, giải đi khắp gần 30 nhà giam của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, bị đày đọa hơn một năm trời. Thời gian này, Người đã viết Nhật kí trong tù bằng thơ chữ Hán, gồm 133 bài, phần lớn là thơ tứ tuyệt. Tập thơ thể hiện một tâm hồn cao đẹp, ý chí cách mạng kiên cường và nghệ thuật thi ca đặc sắc.

II. Tác phẩm

Bài thơ Ngắm trăng được trích trong tập Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh.

III. Hướng dẫn soạn bài Ngắm trăng (Vọng nguyệt) – Hồ Chí Minh

Giải câu 1 (Trang 38 SGK ngữ văn 8 tập 2)

Đọc kĩ phần phiên âm, phần dịch nghĩa và phần giải nghĩa chữ Hán để hiểu chính xác từng câu trong bài thơ. Học thuộc bản dịch thơ và nhận xét về các câu thơ dịch.

Trả lời:

Đối chiếu giữa các nguyên tác, bản dịch nghĩa, dịch thơ:

– Ở câu thơ thứ hai: cụm từ “nại nhược hà?” nghĩa là “biết làm thế nào?” diễn tả sự bối rối, xốn xang của nhân vật trữ tình.

+ Nếu dịch thơ cụm từ “nại nhược hà” thành “khó hững hờ” vô hình chung đã làm mất đi sự tinh tế trong cảm nhận.

-> Gây người đọc hiểu rằng nhân vật trữ tình quá “tỉnh táo”, thậm chí “hững hờ” trước cảnh đẹp tự nhiên.

– Ở hai câu thơ cuối, bản dịch thơ chưa thật đúng và sát với nguyên tác.

+ Hai câu cuối đăng đối trong từng câu, và giữa hai câu: chữ “song” mang lại giá trị cao. Chữ “nhân” đối với chữ “nguyệt” trong cùng một câu. Chữ “nguyệt” đối với “thi gia” ở cuối câu 4. Trong khi bản dịch thơ không đảm bảo được sự đăng đối này.

+ Trong nguyên tác, chữ “khán” nghĩa là ngắm, câu thơ thứ 2 dịch thành “nhòm” làm mất đi tính hàm súc, sự nhã nhặn của ý thơ.

Giải câu 2 Trang 38 SGK ngữ văn 8 tập 2)

Ở bài thơ này, Bác Hồ ngắm trăng trong hoàn cảnh như thế nào? Vì sao Bác lại nói đến cảnh “Trong tù không rượu cũng không hoa”? Qua hai câu đầu, em thấy Bác có tâm trạng ra sao trước cảnh trăng đẹp ngoài trời?

Trả lời:

Hoàn cảnh ngắm trăng thật đặc biệt của nhà thơ:

+ Không rượu, không hoa >< rượu và hoa là những thứ không thể thiếu trong thú vọng nguyệt của người xưa.

+ Diễn ra trong cảnh lao tù chật chội, tù túng >< thú vui tao nhã ngắm trăng của người xưa phải ở nơi khoáng đạt, tâm hồn thư thái, an nhàn, thanh tĩnh.

– Trong tù không rượu cũng không hoa nhằm nói lên cảm giác thiếu thốn hoa của người tù, nhớ tới rượu và hoa là muốn thưởng thức trọn vẹn cái đẹp.

-> Người ngắm trăng trong hoàn cảnh đặc biệt: chốn ngục tù thiếu thốn, tối tăm.

– Trước cảnh trăng đẹp Người bối rối, xốn xang “Đối thử lương tiêu nại nhược hà?”

+ Người yêu thiên nhiên say mê, rung cảm mãnh liệt trước vẻ đẹp của tạo hóa.

-> Tâm hồn người tù không bị vướng bận bởi những ách vật chất nặng nề, tâm hồn vẫn tự do, ung dung thưởng trăng đẹp.

Không chỉ là nhà cách mạng, chiến sĩ yêu nước mà Người còn là nghệ sĩ đích thực với những rung động của tâm hồn thi nhân nhạy cảm trước vẻ đẹp của tự nhiên.

Giải câu 3 (Trang 38 SGK ngữ văn 8 tập 2)

Trong hai câu thơ cuối của bài thơ chữ Hán, sự sắp xếp vị trí các từ nhân (và thi gia), song, nguyệt (và minh nguyệt) có gì đáng chú ý? Sự sắp xếp như vậy và việc đặt hai câu dưới dạng đối nhau có hiệu quả nghệ thuật như thế nào?

Trả lời:

Hai câu thơ cuối có sự đăng đối về mặt ý và hình thức:

+ Chữ “song” (cửa sổ) ở giữa cặp từ nhân/ nguyệt- minh nguyệt/ thi gia: người tù vượt qua song sắt, qua sự kìm kẹp để hướng ra ngoài ngắm trăng.

+ Trăng cũng nhòm qua khe cửa ngắm nhà thơ: sự giao hòa giữa trăng với người, người và trăng.

+ Biện pháp nhân hóa: trăng trở thành người bạn tri âm tri kỷ từ rất lâu của người tù.

-> Cả người và trăng đều chủ động gặp gỡ tự do, vượt qua những rào cản cửa sắt nhà tù. Cuộc ngắm trăng này trở nên thi vị khi hai tâm hồn tri kỉ tìm đến với nhau: người- trăng.

Giải câu 4 (Trang 38 SGK ngữ văn 8 tập 2)

Qua bài thơ, em thấy hình ảnh Bác Hồ hiện ra như thế nào?

Trả lời:

Hình ảnh Bác Hồ qua bài thơ:

+ Nổi bật tâm hồn thi sĩ lãng mạn, tinh tế.

+ Người tù- người chiến sĩ với sức mạnh tinh thần quả cảm, lạc quan.

+ Sau những vần thơ là tinh thần thép, tự do tự tại, phong thái ung dung vượt trên sự kìm kẹp của nhà tù.

-> Người tù cách mạng không màng tới những đói rét, xiềng xích… của nhà tù, trái lại, tâm hồn lãng mạn, thăng hoa cùng với vẻ đẹp của tự nhiên.

Giải câu 5 (Trang 38 SGK ngữ văn 8 tập 2)

Nhà phê bình văn học Hoài Thanh nhận xét: “ Thơ Bác đầy trăng”. Hãy chép lại những bài thơ Bác Hồ viết về trăng mà em biết (chú ý ghi rõ thời điểm sáng tác mỗi bài). Cuộc “ngắm trăng” trong bài Vọng nguyệt và hình ảnh trăng được thể hiện trong các bài thơ khác của Bác có gì đáng chú ý?

Trả lời:

Nhà phê bình văn học Hoài Thanh nhận xét: “Thơ Bác đầy trăng”.

– Những bài thơ về trăng của Người: Trung thu, Cảnh khuya, Rằm tháng giêng, Tin thắng trận, Đêm thu…

– Trăng trong thơ của Bác có nhiều sắc vẻ, trạng thái khác nhau.

+ Trăng được cảm nhận ở hoàn cảnh ngục tù, hay giữa trời nước bao la, lúc bận việc quân, lúc thư nhàn…

+ Trăng hiện lên như tri âm, tri kỷ với Người

-> Người luôn hướng tới ánh sáng, sự tự do để đạt tới sự tự tại trong tâm hồn. Sự hòa quyện giữa Người với Trăng- tri kỷ- khiến cho thơ của Người luôn có sự hài hòa giữa chất cổ điển và hiện đại.

Tham khảo thêm cách soạn khác bài Ngắm trăng (Vọng nguyệt)

Câu 1. Đọc kĩ phần phiên âm, phần dịch nghĩa và phần giải nghĩa chữ Hán để hiểu chính xác từng câu trong bài thơ. Học thuộc bản dịch thơ và nhận xét về các câu thơ dịch.

Trả lời:

Giải thích nghĩa chính xác của từng câu thơ:

– Câu thứ nhất, dịch sát nguyên tác

– Câu thứ hai, bản dịch thơ không thật sát so với nguyên tác.

Cụm từ “nại nhược hà” có nghĩa là “không biết làm thế nào”, nó thể hiện được cái xốn xang, bối rối của nhân vật trữ tình. Nhưng bản dịch lại là “khó hững hờ”, không diễn tả được cái nét tinh tế như dụng ý ban đầu của tác giả.

– Câu thứ ba và câu thứ tư cũng chưa thật sát:

+ Câu ba và câu 4 trong bản dịch thơ không đảm bảo được sự đăng đối như trong nguyên tác: chữ “song” (cửa sổ) ở giữa hai câu, chữ “nhân” ở đầu câu 3 đối với chữ “nguyệt” ở cuối câu 3; chữ “nguyệt” ở đầu câu 4 đối với chữ “thi gia” ở cuối câu 4; hai chữ đầu và 2 chữ cuối 2 câu đối nhau: (nhân-nguyệt, minh nguyệt-thi gia).

+ Trong nguyên tác, câu thứ 4 chỉ có 1 chữ “khán” nghĩa là “ngắm”, câu thơ dịch lại có 2 chữ “nhòm”, “ngắm” đã làm giảm đi tính hàm súc của câu thơ nguyên tác. Hơn nữa, chữ “nhòm” theo cách hiểu thông thường, làm cho câu thơ giảm đi sự nhã nhặn.

Câu 2. Ở bài thơ này, Bác Hồ ngắm trăng trong hoàn cảnh như thế nào? Vì sao Bác lại nói đến cảnh “Trong tù không rượu cũng không hoa”? Qua hai câu đầu, em thấy Bác có tâm trạng ra sao trước cảnh trăng đẹp ngoài trời?

Trả lời:

– Bài thơ được sáng tác trong hoàn cảnh:

+ Người đang bị giam cầm ở chốn lao tù, nơi thiếu thốn mọi thứ về vật chất.

+ Nơi mất tự do.

– Bác nói đến hoàn cảnh “không rượu cũng không hoa” vì:

+ Người xưa thường ngắm trăng khi tâm hồn thanh tĩnh, thư thái, có đủ rượu, đủ hoa.

+ Bác nói như thế không phải là nêu lên cái thiếu thốn mà để thể hiện sự mong muốn được thưởng thức trọn vẹn cái đẹp.

– Qua hai câu đầu, em thấy Bác không chỉ là một người Cách mạng, người chiến sĩ mà còn là một người nghệ sĩ đích thực.

Câu 3. Trong hai câu thơ cuối của bài thơ chữ Hán, sự sắp xếp vị trí các từ nhân (và thi gia), song, nguyệt (và minh nguyệt) có gì đáng chú ý? Sự sắp xếp như vậy và việc đặt hai câu dưới dạng đối nhau có hiệu quả nghệ thuật như thế nào?

Trả lời:

– Trong hai câu thơ cuối của bài thơ chữ Hán, sự sắp xếp vị trí các từ nhân (và thi gia), song, nguyệt (và minh nguyệt) có sự độc đáo:

+ Chữ “song’ (cửa sổ) ở giữa 2 cặp nhân- nguyệt, minh nguyệt-thi gia

-> Sự sắp xếp như vậy có tác dụng thể hiện dụng ý: vượt qua song sắt cửa sổ nhà tù, khi thì thi nhân hướng ra ngoài ngắm trăng (câu 3), khi thì trăng từ bên ngoài ngắm nhà thơ.

Sự giao hòa, tri kỉ giữa người-trăng, trăng

– người được thể hiện trong sự đăng đối hài hòa của 2 câu thơ.

Câu 4. Qua bài thơ, em thấy hình ảnh Bác Hồ hiện ra như thế nào?

Trả lời:

Hình ảnh Bác hiện lên trong bài thơ nổi bật ở khía cạnh người chiến sĩ không chút bận tâm về gông cùm, đói rét, … Trước khó khăn, Bác vẫn giữ được phong thái ung dung, tự tại. Bài thơ còn thể hiện nổi bật tâm hồn nghệ sĩ của Bác Hồ, một tâm hồn luôn rộng mở với thiên nhiên.

Câu 5*. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh nhận xét: “ Thơ Bác đầy trăng”. Hãy chép lại những bài thơ Bác Hồ viết về trăng mà em biết (chú ý ghi rõ thời điểm sáng tác mỗi bài). Cuộc “ngắm trăng” trong bài Vọng nguyệt và hình ảnh trăng được thể hiện trong các bài thơ khác của Bác có gì đáng chú ý?

Trả lời:

“Thơ Bác đầy trăng”. Trăng trong thơ Bác mang nhiều vẻ khác nhau, được miêu tả ở các hoàn cảnh khác nhau. Nhưng tựu trung lại, dù trăng có được cảm nhận ở chốn lao tù hay giữa cảnh trời nước bao la, dù là đang lúc thư nhàn hay bận bịu trăm nghìn công việc, với tâm hồn hướng tới cái đẹp, tới ánh sáng của Bác, bao giờ trăng cũng hiện lên như một người tri âm tri kỉ.

(BAIVIET.COM)