Soạn bài – Mùa xuân nho nhỏ

Soạn bài Mùa xuân nho nhỏ trang 55 – 58 SGK ngữ văn lớp 9 tập 2. Để học tốt hơn danh sách các bài tập trong bài Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải, sau đây là hướng dẫn soạn bài và giải bài tập đầy đủ và chi tiết nhất.

MÙA XUÂN NHO NHỎ

Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện(1)
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.

Mùa xuân người cầm súng
Lộc(2) giắt đầy trên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao…

Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước.

Ta làm con chi hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến.

Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.

Mùa xuân – ta xin hát
Câu Nam ai, Nam bình(3)
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền(4) đất Huế.

11 – 1980
(Thanh Hải(*), trong Thơ Việt Nam 1945 – 1985,
NXB Giáo dục, Hà Nội, 1987)

Chú thích:

(*) Thanh Hải (1930 – 1980) tên khai sinh là Phạm Bá Ngoãn, quê ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Ông hoạt động văn nghệ từ cuối những năm kháng chiến chống Pháp. Trong thời kì chống Mĩ cứu nước, Thanh Hải ở lại quê hương hoạt động và là một trong những cây bút có công xây dựng nền văn học cách mạng ở miền Nam từ những ngày đầu.

Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ được viết không bao lâu trước khi nhà thơ qua đời, thể hiện niềm yêu mến thiết tha cuộc sống, đất nước và ước nguyện của tác giả.

(1) Chiền chiện: loài chim nhỏ hơn chim sẻ, thường ở ruộng hay bãi quang đãng, khi hót bay vút lên cao tiếng hót vang xa.

(2) Lộc: chồi non. Ở đây dùng với nghĩa rộng là nhành non, cây non.

(3) Nam ai, Nam bình: hai điệu ca Huế. Điệu Nam ai giai điệu buồn thương, còn Nam bình thì dịu dàng, trìu mến.

(4) Phách tiền: phách là nhạc khí để gõ nhịp, làm bằng thanh tre cứng; phách tiền là phách có đính thêm cọc tiền đồng.

Hướng dẫn soạn bài – Mùa xuân nho nhỏ

I. Bố cục

Bố cục gồm 4 phần:

– Phần 1 (khổ thơ đầu): Mùa xuân trữ tình, nên thơ của thiên nhiên đất trời và cảm xúc của tác giả.

– Phần 2 (hai khổ thơ tiếp theo): Mùa xuân của đất nước trong dòng chảy lịch sử.

– Phần 3 (hai khổ thơ tiếp): Ước nguyện chân thành được cống hiến cho đất nước của nhà thơ.

– Phần 4 (khổ thơ còn lại): Tình cảm của nhà thơ giành cho quê hương đất nước qua điệu dân ca Huế.

II. Hướng dẫn soạn bài Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải

Giải câu 1 (Trang 57 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Đọc nhiều lần bài thơ và tìm hiểu mạch cảm xúc trong bài (gợi ý: từ cảm xúc về thiên nhiên, đất nước dẫn đến suy nghĩ, ước nguyện của tác giả). Từ việc nhận ra mạch cảm xúc, hãy nêu bố cục của bài thơ.

Trả lời:

Từ xúc cảm trước mùa xuân của thiên nhiên, đất trời đến mùa xuân của mỗi con người trong mùa xuân lớn của đất nước, thể hiện khát vọng được dâng hiến “mùa xuân nho nhỏ” của mình vào mùa xuân lớn của cuộc đời chung.

Có thể xác định bố cục của bài thơ gồm bốn đoạn:

– Khổ đầu (6 dòng thơ): cảm xúc trước mùa xuân của thiên nhiên, đất trời.

– Hai khổ 2, 3 (từ “Mùa xuân người cầm súng” đến “cứ đi lên phía trước”): hình ảnh mùa xuân đất nước.

– Hai khổ 4, 5 (từ “Ta làm con chim hót” đến “Dù là khi tóc bạc”): những suy nghĩ và ước nguyện của nhà thơ trước thiên nhiên đất nước.

– Khổ thơ cuối: Lời ca ngợi quê hương, đất nước qua điệu ca Huế.

Giải câu 2 (Trang 57 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Mùa xuân của thiên nhiên, đất nước đã được miêu tả như thế nào qua những hình ảnh, màu sắc, âm thanh trong hai khổ thơ đầu?
Cảm xúc của tác giả trước vẻ đẹp và sức sống của mùa xuân đất nước như thế nào?

Trả lời:

Mùa xuân ở khổ thơ đầu là mùa xuân của thiên nhiên, đất trời với dòng sông xanh, bông hoa tím biếc, tiếng chim chiền chiện hót vang trời. Chỉ bằng vài nét phác họa, tác giả đã vẽ ra cả không gian cao rộng với dòng sông, mặt đất, bầu trời bao la, với màu sắc tươi thắm (sông xanh, hoa tím biếc), với những âm thanh vang vọng (tiếng chim chiền chiện) của mùa xuân.

Cảm xúc của tác giả trước cảnh mùa xuân được diễn tả qua hai câu thơ:

Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.

Có nhiều cách hiểu về hai câu thơ này, tuy nhiên có thể hiểu “từng giọt” là “những giọt mùa xuân”, là sự chuyển đổi các cảm giác, từ màu sắc, âm thanh, hình ảnh… sang hình khối, đường nét, một sự cụ tượng hóa những yếu tố vô hình (âm thanh, màu sắc…) thành một yếu tố hữu hình, có thể cảm nhận được bằng nhiều giác quan. Dù hiểu như thế nào thì hai câu thơ cũng thể hiện niềm say sưa ngây ngất của nhà thơ trước cảnh mùa xuân.

Giải câu 3 (Trang 57 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Phân tích đoạn thơ “Ta làm con chim hót… Dù là khi tóc bạc” (chú ý những hình ảnh biểu tượng, từ ngữ và cách diễn đạt rất gợi cảm thể hiện một ước nguyện chân thành của tác giả). Đoạn thơ ấy gợi cho em những cảm nghĩ gì về cuộc sống của mỗi con người?

Trả lời:

Từ cảm xúc về mùa xuân của thiên nhiên, đất trời, nhà thơ chuyển sang bày tỏ những suy ngẫm và tâm niệm về mùa xuân đất nước. Đó là khát vọng được hòa nhập vào cuộc sống, được cống hiến phần tốt đẹp của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước.

Điều tâm niệm ấy được thể hiện một cách chân thành trong những hình ảnh tự nhiên, giản dị và đẹp. Nhà thơ đã dùng những hình ảnh đẹp của thiên nhiên để nói lên ước nguyện của mình: muốn “làm con chim hót”, muốn “làm một cành hoa”… Niềm mong muốn được sống có ích, cống hiến cho đời là một lẽ tự nhiên như con chim mang đến tiếng hót, như bông hoa toả hương sắc, mang đến vẻ đẹp cho cuộc đời.

Đoạn thơ gợi cho ta những suy nghĩ sâu sắc về ý nghĩa cuộc sống của mỗi con người. Cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi con người biết sống, biết chăm lo cho cuộc đời chung và có thể đóng góp những gì tốt đẹp của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước.

Giải câu 4 (Trang 57 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Bài thơ có nhạc điệu trong sáng, thiết tha, gợi cảm, gần gũi với dân ca. Những yếu tố như thể thơ, cách ngắt nhịp, gieo vần, điệp ngữ,… đã được sử dụng như thế nào để tạo được nhạc điệu ấy?

Trả lời:

Bài thơ có nhịp điệu trong sáng, thiết tha, gợi cảm, gần gũi với dân ca. Đặc điểm ấy có được là nhờ nhà thơ đã sử dụng các yếu tố như thể thơ, cách ngắt nhịp, cách gieo vần, cách sử dụng các điệp từ, điệp ngữ rất hiệu quả:

– Thể thơ năm chữ gắn liền với các điệu dân ca, nhất là dân ca miền Trung, có âm hưởng nhẹ nhàng, tha thiết. Cách gieo vần liền giữa các khổ thơ cũng góp phần toạ nên sự liền mạch cho cảm xúc.

– Kết hợp những hình ảnh tự nhiên giản dị (bông hoa tím, tiếng chim hót, vì sao…) với các hình ảnh giàu ý nghĩa biểu trưng, khái quát (đất nước như vì sao…).

– Tứ thơ xoay quanh hình ảnh mùa xuân, từ mùa xuân của đất trời đến mùa xuân của quê hương đất nước. Cách cấu tứ như vậy khiến cho ý thơ luôn tập trung, cảm xúc trong thơ không bị dàn trải.

– Giọng điệu của bài thơ thể hiện đúng tâm trạng của tác giả, biến đổi phù hợp với nội dung từng đoạn: vui, say sưa ở đoạn đầu, trầm lắng, thiết tha khi bộc bạch tâm niệm, sôi nổi, tha thiết ở đoạn kết.

Giải câu 5 (Trang 57 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Em hiểu thế nào về nhan đề Mùa xuân nho nhỏ? Hãy nêu chủ đề của bài thơ.

Trả lời:

Nhan đề Mùa xuân nho nhỏ là một sáng tạo độc đáo của Thanh Hải. Nhiều nhà thơ đã viết về mùa xuân với những sắc thái khác nhau: mùa xuân chín (Hàn Mặc Tử), Mùa xuân xanh (Nguyễn Bính), Xuân ý, Xuân lòng (Tố Hữu)… Trong bài thơ này, ý nguyện của tác giả là muốn làm một mùa xuân nhưng chỉ là một mùa xuân nho nhỏ – đóng góp công sức nhỏ bé của mình làm đẹp thêm mùa xuân đất nước.

Soạn phần luyện tập bài Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải

Giải câu 1 – Luyện tập (Trang 58 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Học thuộc lòng bài thơ: Mùa xuân nho nhỏ.

Trả lời:

Các em học thuộc lòng bài thơ bằng cách học của bản thân.

Giải câu 2 – Luyện tập (Trang 58 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Viết một đoạn văn bình một khổ thơ trong bài mà em thích.

Trả lời:

Gợi ý: Đoạn văn bình khổ thơ:

“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến”

Khổ thơ trên là lời ước nguyện thiết tha mà chân thành của nhà thơ, mong muốn được cống hiến cho đất nước. Điệp từ “ta” được lặp lại ba lần đi cùng với những động từ “làm”, “nhập” đã thể hiện một cách trực tiếp tư thế sẵn sàng nhập cuộc, sẵn sàng cống hiến của nhà thơ. Nhà thơ muốn trở thành một “con chim hót”, “một cành hoa”, “một nốt trầm xao xuyến”, những điều tuy giản đơn, bé nhỏ nhưng đẹp đẽ, ý nghĩa. Nhà thơ ý thức được sự nhỏ bé của cá nhân trước tầm vóc của cả một dân tộc. Ước nguyện của nhà thơ là trở thành một “mùa xuân nho nhỏ” hòa cùng với sắc điệu mùa xuân của cả đất nước, chỉ khi có thể góp sức mình cho dân tộc thì cuộc sống mới trở nên có ý nghĩa, đáng sống. Tấm lòng cao đẹp, tinh thần dân tộc sáng ngời được gửi gắm đằng sau cách nói khiêm tốn nhưng đầy chân thành khiến cho ý nghĩa của đoạn thơ càng trở nên sâu sắc, cảm động.

Ý nghĩa – Nhận xét

– Về nội dung: Học sinh cảm nhận được tiếng lòng tha thiết yêu mến và gắn bó với đất nước, với cuộc đời và ước nguyện chân thành muốn được cống hiến cho đất nước của nhà thơ.

– Về nghệ thuật: Học sinh phân tích được giá trị biểu đạt của thể thơ năm tiếng, với nhạc điệu trong sáng, tha thiết, gần gũi với dân ca cũng như những hình ảnh đẹp, giản dị mà giàu tính biểu cảm, cùng những ẩn dụ, so sánh chuyển đổi cảm giác mà tác giả sử dụng.

Tham khảo thêm cách soạn khác bài Mùa xuân nho nhỏ

Câu 1. Đọc nhiều lần bài thơ và tìm hiểu mạch cảm xúc trong bài (gợi ý: từ cảm xúc về thiên nhiên, đất nước dẫn đến suy nghĩ, ước nguyện của tác giả). Từ việc nhận ra mạch cảm xúc, hãy nêu bố cục của bài thơ.

Trả lời:

Đầu tiên là cảm xúc của nhà thơ với mùa xuân của thiên nhiên đất nước, sau đó là cảm xúc về mùa xuân của mỗi người trong mùa xuân đất nước. Cuối cùng là khát vọng được dâng hiến “mùa xuân nho nhỏ” của bản thân vào mùa xuân cuộc đời chung.

Qua đó, có thể chia văn bản thành 4 phần:

– Khổ đầu (6 dòng thơ): cảm xúc trước mùa xuân của thiên nhiên, đất trời.

– Hai khổ 2, 3: hình ảnh mùa xuân đất nước.

– Hai khổ 4, 5: những suy nghĩ và ước nguyện của nhà thơ trước thiên nhiên đất nước.

– Khổ thơ cuối: Lời ca ngợi quê hương, đất nước qua điệu ca Huế.

Câu 2. Mùa xuân của thiên nhiên, đất nước đã được miêu tả như thế nào qua những hình ảnh, màu sắc, âm thanh trong hai khổ thơ đầu?
Cảm xúc của tác giả trước vẻ đẹp và sức sống của mùa xuân đất nước như thế nào?

Trả lời:

Mùa xuân trong khổ thơ đầu là mùa xuân của thiên nhiên, đất trời với: dòng sông xanh, bông hoa tím biếc, tiếng chim chiền chiện hót vang trời. Thanh Hải đã vẽ ra bức tranh thiên nhiên tươi đẹp với không gian cao rộng, dòng sông, mặt đất, bầu trời bao la, màu sắc tươi thắm (sông xanh, hoa tím biếc), âm thanh (tiếng chim chiền chiện) của mùa xuân.

Cảm xúc của tác giả trước cảnh mùa xuân được diễn tả qua hai câu thơ:

Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.

Có thể hiểu “từng giọt” là “những giọt mùa xuân”, là sự chuyển đổi các cảm giác, từ màu sắc, âm thanh, hình ảnh… sang hình khối, đường nét, một sự cụ thể hóa những yếu tố vô hình (âm thanh, màu sắc…) thành một yếu tố hữu hình, có thể cảm nhận được bằng nhiều giác quan. Đó là niềm say mê của nhà thơ trước cảnh mùa xuân.

Câu 3. Phân tích đoạn thơ “Ta làm con chim hót… Dù là khi tóc bạc” (chú ý những hình ảnh biểu tượng, từ ngữ và cách diễn đạt rất gợi cảm thể hiện một ước nguyện chân thành của tác giả). Đoạn thơ ấy gợi cho em những cảm nghĩ gì về cuộc sống của mỗi con người?

Trả lời:

Phân tích đoạn thơ “Ta làm con chim hót… Dù là khi tóc bạc” :

– Nhà thơ khát vọng được hòa nhập vào cuộc sống của đất nước, cống hiến phần tốt đẹp, dù nhỏ bé của mình : muốn làm “con chim hót”, “một cành hoa”, hay “một nốt trầm” trong bản thanh âm tươi đẹp.

– Với lối điệp ngữ, ẩn dụ trong hình ảnh “tuổi hai mươi”, “khi tóc bạc”, ta thấy tinh thần cống hiến vì đất nước của nhà thơ bền bỉ và to lớn nhường nào.

Câu 4. Bài thơ có nhạc điệu trong sáng, thiết tha, gợi cảm, gần gũi với dân ca. Những yếu tố như thể thơ, cách ngắt nhịp, gieo vần, điệp ngữ,… đã được sử dụng như thế nào để tạo được nhạc điệu ấy?

Trả lời:

Bài thơ có nhịp điệu trong sáng, tha thiết, gần gũi với dân ca. Tác giả đã sử dụng các yếu tố như thể thơ, cách ngắt nhịp, cách gieo vần, cách sử dụng các điệp từ, điệp ngữ rất hiệu quả:

– Thể thơ năm chữ gắn liền với các điệu dân ca, nhất là dân ca miền Trung, có âm hưởng nhẹ nhàng, tha thiết.

– Cách gieo vần liền giữa các khổ thơ cũng tạo nên sự liền mạch cho cảm xúc.

– Hình ảnh tự nhiên giản dị (bông hoa tím, tiếng chim hót, vì sao…) với các hình ảnh giàu ý nghĩa biểu trưng, khái quát (đất nước như vì sao…).

– Ý thơ xoay quanh hình ảnh mùa xuân, từ mùa xuân của đất trời đến mùa xuân của quê hương đất nước.

– Giọng điệu của bài thơ biến đổi thể hiện tâm trạng của tác giả: vui, say sưa ở đoạn đầu, trầm lắng, thiết tha khi bộc bạch tâm niệm, sôi nổi, tha thiết ở đoạn kết.

Câu 5. Em hiểu thế nào về nhan đề Mùa xuân nho nhỏ? Hãy nêu chủ đề của bài thơ.

Trả lời:

– Nhan đề : là một sáng tạo độc đáo. Khác với Mùa xuân chín (Hàn Mặc Tử), Mùa xuân xanh (Nguyễn Bính),… Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải không chỉ là mùa xuân đất trời mà còn là mùa xuân đời người, nhỏ bé với khát khao cống hiến.

– Chủ đề bài thơ : rung cảm trước mùa xuân thiên nhiên, đất nước và khát vọng cống hiến cho đất nước, cho cuộc đời.

Soạn phần luyện tập bài Mùa xuân nho nhỏ trang 58 SGK ngữ văn 9 tập 2

Bài 1. Học thuộc lòng bài thơ.

Trả lời:

Các em học thuộc lòng bài thơ: Mùa xuân nho nhỏ bằng cách học của bản thân.

Bài 2. Viết một đoạn văn bình một khổ thơ trong bài mà em thích.

Trả lời:

Học sinh có thể tự chọn khổ thơ để viết đoạn văn

Ví dụ:

Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.

Mùa xuân nho nhỏ là tác phẩm được nhà thơ Thanh Hải sáng tác vào những ngày cuối đời mình, khi ông đang nằm trên giường bệnh. Bài thơ là những gửi gắm về khát vọng được sống có ích, được cống hiến cho xã hội. Đoạn thơ chính là lời tác giả bộc bạch về khát vọng của bản thân. Trong khung cảnh mùa xuân của thiên nhiên và đất nước, Thanh Hải muốn được dâng hiến “mùa xuân nho nhỏ” của bản thân mình vào mùa xuân chung của cuộc đời. Tính từ “nho nhỏ” và “lặng lẽ” đã thể hiện được đức tính khiêm tốn tốt đẹp của tác giả, ông muốn được cống hiến mà không cần được biết tới, chỉ muốn lặng lẽ đem những gì tốt đẹp nhất cho cuộc sống. Khát vọng ấy luôn luôn nguyên vẹn, cháy hừng hực nhiệt huyết cho dù là khi còn trẻ hay là khi về già. Đây chính là một thông điệp sống cao đẹp, có ý nghĩa gửi tới chúng ta.

(BAIVIET.COM)