Soạn bài – Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (trích Truyện Lục Vân Tiên)

Soạn bài Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (trích Truyện Lục Vân Tiên) trang 109 – 116 SGK ngữ văn lớp 9 tập 1. Để học tốt hơn danh sách các bài tập trong bài Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (trích Truyện Lục Vân Tiên), sau đây là hướng dẫn soạn bài và giải bài tập đầy đủ, ngắn gọn và chi tiết nhất.

LỤC VÂN TIÊN CỨU KIỀU NGUYỆT NGA

(Trích Truyện Lục Vân Tiên(1))

Vân tiên ghé lại bên đàng,
Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô.
Kêu rằng: “Bớ đảng hung đồ,
Chớ quen làm thói hồ đồ(2) hại dân.”
Phong Lai(3) mặt đỏ phừng phừng:
“Thằng nào dám tới lẫy lừng(4) vào đây.
Trước gây việc dữ tại mầy(5),
Truyền quân bốn phía phủ vây bịt bùng.”
Vân Tiên tả đột hữu xông(6),
Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang(7).
Lâu la bốn phía vỡ tan,
Đều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay.
Phong Lai trở chẳng kịp tay,
Bị Tiên một gậy thác rày thân vong(8).

soan bai luc van tien cuu kieu nguyet nga trich truyen luc van tien sgk ngu van 9 tap 1 hinh anh 1

Dẹp rồi lũ kiến chòm om,
Hỏi: “Ai than khóc ở trong xe này?”
Thưa rằng: “Tôi thiệt người ngay,
Sa cơ nên mới lầm tay hung đồ.
Trong xe chật hẹp khôn phô(9),
Cúi đầu trăm lạy cứu cô tôi cùng.”
Vân Tiên nghe nói động lòng,
Đáp rằng: “Ta đã trừ dòng lâu la.
Khoan khoan ngồi đó chớ ra,
Nàng là phận gái, ta là phận trai.
Tiểu thơ con gái nhà ai,
Đi đâu nên nỗi mang tai bất kì?(10)
Chẳng hay tên họ là chi?
Khuê môn(11) phận gái việc gì đến đây?
Trước sau chưa hãn dạ nầy,(12)
Hai nàng ai tớ ai thầy nói ra?”
Thưa rằng: “Tôi Kiều Nguyệt Nga,
Con này tì tất(13) tên là Kim Liên.
Quê nhà ở quận Tây Xuyên,
Cha làm tri phủ ở miền Hà Khê.
Sai quân đem bức thơ về,
Rước tôi qua đó định bề nghi gia.
Làm con đâu dám cãi cha,
Ví dầu ngàn dặm đàng xa cũng đành.
Chẳng qua là sự bất bình,(14)
Hay vầy(15) cũng chẳng đăng trình(16) làm chi.
Lâm nguy chẳng gặp giải nguy,
Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi.(17)
Trước xe quân tử(18) tạm ngồi,
Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa.
Chút tôi(19) liễu yếu đào thơ,(20)
Giữa đường lâm phải bụi dơ đã phần(21).
Hà Khê qua đó cũng gần,
Xin theo cùng thiếp đền ơn cho chàng.
Gặp đây đương lúc giữa đàng,
Của tiền chẳng có, bạc vàng cũng không.
Gẫm câu báo đức thù công,(22)
Lấy chi cho phỉ(23) tấm lòng cùng ngươi”.
Vân Tiên nghe nói liền cười:
“Làm ơn há dễ trông người trả ơn.
Nay đà rõ đặng nguồn cơn,
Nào ai tính thiệt so hơn làm gì.
Nhớ câu kiến nghĩa bất vi,(24)
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”.

(Nguyễn Đình Chiểu(*), Truyện Lục Vân Tiên, trong Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, tập I, NXB Đại học và THCN, Hà Nội, 1980).

Chú thích:

(*) Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), tục gọi là Đồ Chiểu, sinh tại quê mẹ ở làng Tân Thới, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh); quê cha ở Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Ông thi đỗ tú tài năm 21 tuổi (1843), nhưng 6 năm sau (1849) ông bị mù. Không đầu hàng số phận, ông về Gia Định dạy học và bốc thuốc chữa bệnh ho dân. Khi thực dân Pháp xâm lược Nam Kì, Nguyễn Đình Chiểu tích cực tham gia phong trào kháng chiến, cùng các lãnh tụ nghĩa quân bàn bạc việc đánh giặc và sáng tác thơ văn khích kệ tinh thần chiến đấu của nhân dân. Lúc cả

Nam Kì đã rơi vào tay giặc, ông về sống tại Ba Tri (Bến Tre), nêu cao tinh thần bất khuất trước kẻ thù, giữ trọn lòng trung thành với Tổ quốc, với nhân dân cho đến lúc mất.

Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ lớn của dân tộc. Ông đã để lại nhiều áng văn chương có giá trị nhằm truyền bá đạo lí làm người như Truyện Lục Vân Tiên, Dương Từ – Hà Mậu; cổ vũ lòng yêu nước, ý chí cứu nước như Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Thơ điếu Trương Định… và truyện thơ dài ngư Tiều y thuật vấn đáp.

 

(1) Truyện Lục Vân Tiên: Truyện thơ Nôm của Nguyễn Đình Chiểu, được sáng tác khoảng đầu những năm 50 của thế kỉ XIX, lưu truyền rộng rãi dưới hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian như “kể thơ”, “nói thơ Vân Tiên”, “hát Vân Tiên” ở Nam Kì và Nam trung Kì. Ảnh hưởng của nó còn lan rộng ra toàn quốc. truyện được in nhiều lần, bởi thế có nhiều văn bản khác nhau, có khi thêm bớt cả trăm câu thơ. Theo văn bản thường dùng hiện nay, truyện có 2.082 câu thơ lục bát. Có thể tóm tắt truyện như sau:

Lục Vân Tiên quê ở quận Đông Thành, khôi ngô tuấn tú, tài kiêm văn võ. Nghe tin triều đình mở khoa thi, Vân Tiên từ giã thầy xuống núi đua tài. Trên đường về nhà thăm cha mẹ, gặp bọn cướp Phong Lai đang hoành hành, chàng đã một mình đánh tan bọn cướp, cứu được Kiều Nguyệt Nga. Cảm ân đức ấy, Nguyệt Nga đã tự nguyện gắn bó suốt đời với Vân Tiên và tự tay vẽ một bức hình chàng giữ luôn bên mình. Còn Vân Tiên tiếp tục hành trình, gặp và kết bạn với Hớn Minh, một sĩ tử khác.

Sau khi về thăm cha me, Vân tiên cùng tiểu đồng lên đường đi thi, ghé thăm Võ Công, người đã hứa là gả con gái là Võ Thể Loan cho chàng. Từ đây, Vân Tiên có thêm người bạn đồng hành là Vương Tử Trực, tới kinh đô gặp lại Trịnh Hâm, Bùi Kiệm. Thấy Vân Tiên tài cao, Hâm, Kiệm sinh lòng đố kị, ghen ghét. Lúc sắp vào trường thi, Vân Tiên nhận được tin mẹ mất, liền bỏ thi trở về quê chịu tang. Dọc đường về, Vân tiên đau mắt nặng, rồi bị mù cả hai mắt, lại bị Trịnh Hâm lừa đẩy xuống sông. Nhờ giao long dìu đỡ đưa vào bãi, Vân tiên được gia đình ông Ngư cưu mang. Sau đó chàng lại bị cha con võ Công hãm hại đem bỏ vào hang núi Thương Tòng. Được Du thần và ông Tiền cứu ra, Vân tiên may mắn gặp lại Hớn Minh (vì trừng trị cậu công tử con quan ỷ thế làm càn mà Hớn Minh phải bỏ thi, sống lẩn lút trong rừng). Hớn Minh đón bạn về nương náu ở nơi am vắng. Khoa thi năm ấy Tử Trực đỗ thủ khoa, trở lại nhà họ Võ hỏi thăm tin tức Vân Tiên. Võ Công ngỏ ý muốn gả con gái, bị Tử Trực cự tuyệt và mắng thẳng vào mặt, Võ Công hổ thẹn ốm chết.

Nghe tin Lục Vân tiên đã chết, Kiều Nguyệt Nga thề sẽ thủ tiết suốt đời. Thái sư đương triều hỏi nàng cho con trai không được, đem lòng thù oán, tâu vua bắt Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua. Thuyền đi tới biên giới, nàng mang theo bức hình Vân tiên nhảy xuống sông tự tử. Phật bà Quan Âm đưa nàng dạt vào vườn hoa nhà họ Bùi. Bùi Công nhận nàng làm con nuôi, nhưng Bùi Kiệm lại một hai đòi lấy nàng làm vợ. Nguyệt Nga phải trốn khỏi nhà họ Bùi, vào rừng, nương nhờ một bà lão dệt vải.

Lục Vân Tiên ở với Hớn Minh, được tiên cho thuốc, mắt lại sáng, liền trở về thăm cha, viếng mộ mẹ, thăm cha của Kiều Nguyệt Nga. Đến khoa thi, chàng đỗ trạng nguyên và được nhà vua cử đi dẹp giặc Ô Qua. Hớn Minh được tiến cử làm phó tướng. Đánh giặc tan, Vân tiên một mình lạc vào trong rừng, đến nhà lão bà hỏi thăm đường và gặp lại Nguyệt Nga. Chàng về triều tâu hết sự tình, kẻ gian ác bị trừng trị, người nhân nghĩa được đền đáp, Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga sum vầy hạnh phúc.
Đoạn trích Lục vân tiên cứu Kiều Nguyệt Nga nằm ở phần đầu của truyện.

(2) Hồ đồ: lơ mơ không rõ, thiếu căn cứ rõ ràng. Ở đây chỉ thói làm càn, không chính đáng.

(3) Phong Lai: tên của kẻ cầm đầu bọn cướp.

(4) Lẫy lừng: vang dội, lừng danh, khắp nơi đều biết. Ở đây dùng nghĩa cổ, có nghĩa là dữ dội, hung hăng gây sự.

(5) Mầy: mày (tiếng miền Nam).

(6) Tả đột hữu xông (hữu xung): đánh vào bên trái, xông thẳng bên phải, ý nói thế chủ động tung hoành khi lâm trận.

(7) Triệu Tử phá vòng Đương Dang (Đương Dương): Triệu Vân, tên chữ là Tử Long, một tướng trẻ của Lưu Bị thời Tam Quốc. Khi lưu Bị bị quân

Tào đánh đuổi, chạy đến Đương Dương (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc), phải bỏ cả vợ con chạy về phía nam. Triệu Vân một mình phá vòng vây của Tào Tháo, bảo vệ A Đẩu, con nhỏ của Lưu Bị.

(8) Thân vong: ý nói chết bỏ mạng (thân: thân xác, vong: mất).

(9) Khôn phô: khó nói, khó mà bày tỏ được hết.

(10) Mang tai bất kì: bất ngờ, thình lình gặp tai nạn.

(11) Khuê môn: cửa phòng của người con gái. Khuê môn phận gái: phận đàn bà con gái ở chốn phòng the, không đi ra ngoài – theo luân lí phong kiến ngày xưa.

(12) Chưa hãn dạ này (tiếng miền Nam): lòng này chưa tỏ, chưa biết chắc chắn (hãn: rõ)

(13) Tì tất: đầy tớ gái.

(14) Sự bất bình: việc không bình thường, không may xảy ra ngoài ý muốn của mình, ý nói không ngờ bị bọn cướp bắt.

(15) Hay vầy (tiếng miền Nam): biết như thế này.

(16) Đăng trình: lên đường đi xa.

(17) Ý cả câu: cái trinh tiết, phẩm giá mà người con gái giữ gìn cả một đời bỗng chốc bị phá hỏng.

(18) Quân tử: tiếng người phụ nữ tôn gọi người con trai có tài, có đức thời xưa.

(19) Chút tôi: cái tôi nhỏ bé, một cách nói khiêm tốn để chỉ mình khi xưng hô với người khác.

(20) Liễu yếu đào thơ: nói thể chất của người con gái mềm mại, yếu ớt.

(21) Đã phần: đã là phần của tôi, ý nói giữa đường gặp phải bọn cướp, lâm vào hoàn cảnh xấu.

(22) Báo đức thù công: báo trả ơn đức, đền đáp công lao.

(23) Phỉ: thỏa đáng, xứng đáng, thỏa lòng.

(24) Kiến nghĩa bất vi: thấy việc nghĩa không làm. Cả hai câu thơ ý nói thấy việc nghĩa mà bỏ qua không làm thì không phải là người anh hùng.

Hướng dẫn soạn bài – Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

I. Bố cục:

– Phần 1 (mười bốn câu thơ đầu): Lục Vân Tiên giữa đường gặp chuyện bất bình ra tay cứu giúp.

– Phần 2 (những câu thơ còn lại): Cuộc trò chuyện giữa Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga.

II. Hướng dẫn soạn bài Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga chi tiết.

Giải câu 1 (Trang 115 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Truyện Lục Vân Tiên được kết cấu theo kiểu thông thường của các loại truyện truyền thống xưa như thế nào? Đối với loại văn chương nhằm tuyên truyền đạo đức thì kiểu kết cấu đó có ý nghĩa gì?

Trả lời:

Truyện Lục Vân Tiên có kiểu kết cấu ước lệ theo khôn mẫu của truyện truyền thống: người tốt gặp gian truân, bị kẻ xấu hãm hại nhưng được phù trợ và cứu giúp, cuối cùng được đền đáp xứng đáng, kẻ xấu bị trừng trị. Đây là loại truyện thể hiện khát vòng cháy bỏng của nhân dân: ở hiền gặp lành, cái thiện chiến thắng cái ác.

Giải câu 2 (Trang 115 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Đọc đoạn trích, em cảm nhận Lục Vân Tiên là một con người như thế nào. Hãy phân tích những phẩm chất của nhân vật qua hành động đánh cướp và qua cách cư xử với Kiều Nguyệt Nga.

Trả lời:

Hình ảnh Lục Vân Tiên trong đoạn trích là một chàng trai nghĩa hiệp, tài giỏi, không chịu nổi cảnh “bất bình”:

– Vân Tiên ghé lại bên đàng,
Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô…
– Vân Tiên tả đột hữu xông
Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang

Hành động đó thể hiện tính cách anh hùng, tài năng và tấm lòng cao thượng của Vân Tiên. Hình ảnh Vân Tiên trong trận đánh được miêu tả theo phong cách văn chương cổ, đó là theo cách so sánh với mẫu hình lí tưởng Triệu Tử Long (Triệu Vân) một mình phá vòng vay của Tào Tháo trong trận Đương Dang (Đương Dương) nổi tiếng.

Thái độ cư xử của Vân Tiên với Kiều Nguyệt Nga sau khi đánh cướp cũng thể hiện rõ bản chất của con người hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, từ tâm, nhân hậu. Tuy có màu sắc của lễ giáo phong kiến (Khoa khoan ngồi đó chớ ra – Nàng là phận gái, ta là phận trai) nhưng đoạn thơ vẫn thể hiện đức tính khiêm nhường đáng quí của chàng.

Giải câu 3 (Trang 115 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Với tư cách là người chịu ơn, Kiều Nguyệt Nga trong đoạn trích này đã bộc lộ những nét đẹp tâm hồn như thế nào? Hãy phân tích điều đó qua ngôn ngữ, cử chỉ của nàng.

Trả lời:

Là người chịu ơn, trong đoạn truyện này, Kiều Nguyệt Nga cũng đã bộc lộ những nét đẹp trong tâm hồn. Qua lời lẽ nàng giãi bày với Lục Vân Tiên, có thể thấy nàng là một cô gái khuê các, thùy mị, nết na, có học thức, cách xưng hô “quân tử”, “tiện thiếp” khiêm nhường; cách nói văn vẻ, dịu dàng, mực thước, cách trình bày vấn đề rõ ràng, khúc chiết vừa đáp ứng đầy đủ những điều thăm hỏi ân cần của Lục Vân Tiên, vừa thể hiện chân thành niềm cảm kích, xúc động của mình.

Trước xe quân tử tạm ngồi
Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa.

Nàng là người chịu ơn cứu mạng, Vân Tiên đã cứu cả cuộc đời trong trắng của nàng. Nàng rất áy náy, băn khoăn tìm cách trả ơn. Bởi thế cuối cùng nàng đã tự nguyện gắn bó cuộc đời với chàng trai khẳng khái hào hiệp đó và đã giám liều mình để giữ trọn ân tình thủy chung với chàng. Nét đẹp đó của Kiều Nguyệt Nga khiến người đọc cảm mến.

Giải câu 4 (Trang 115 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Theo em, nhân vật trong đoạn trích này được miêu tả chủ yếu qua ngoại hình, nội tâm hay hành động, cử chỉ? Điều đó cho thấy truyện Lục Vân tiên gần với loại truyện nào mà em đã học?

Trả lời:

Truyện Lục Vân Tiên ban được Nguyễn Đình Chiểu sáng tác và truyền miệng qua các môn đệ, dưới hình thức “kể thơ”, tác giả trực tiếp thể hiện tình cảm của mình đối với nhân vật, do đó có tính dân gian đậm nét.

Ngôn ngữ thể hiện trong đoạn trích là ngôn ngữ bình dân, giản dị, gần với lời ăn tiếng nói của người dân Nam Bộ, rất tự nhiên cho nên nó có sức sống lâu bền trong đời sống.

Giải câu 5 (Trang 115 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Em xó nhận xét gì về ngôn ngữ của tác giả trong đoạn thơ trích?

Trả lời:

Ngôn ngữ tác giả mộc mạc, bình dị, gần với lời nói thông thường, mang màu sắc địa phương Nam Bộ. Nó có phần thiếu trau chuốt, uyển chuyển nhưng lại phù hợp với ngôn ngữ kể, rất tự nhiên, dễ đi vào quần chúng. Ngôn ngữ đa dạng, phù hợ với diễn biến trình tự tính cách nhân vật.

Soạn phần luyện tập bài Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

Giải câu 1 – Luyện tập (Trang 116 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Hãy phân biệt sắc thái riêng từng lời thoại của mỗi nhân vật trong đoạn trích (Phong Lai, Vân Tiên, Nguyệt Nga), đọc diễn cảm đoạn thơ.

Trả lời:

+ Phong Lai: Giọng ngang tàng, hống hách, kiêu căng.

+ Vân Tiên:

→ Khi nói chuyện với Phong Lai: Cương quyết.

→ Khi nói chuyện với chủ tớ Kiều Nguyệt Nga: quan tâm, nhã nhặn, giữ khoảng cách.

+ Kiều Nguyệt Nga: giọng cảm kích, biết ơn, chân thành, nhẹ nhàng, đầy thiện cảm khi nói chuyện với Lục Vân Tiên.

Tham khảo thêm cách soạn khác bài Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

Câu 1. Truyện Lục Vân Tiên được kết cấu theo kiểu thông thường của các loại truyện truyền thống xưa như thế nào? Đối với loại văn chương nhằm tuyên truyền đạo đức thì kiểu kết cấu đó có ý nghĩa gì?

Trả lời:

* Kết cấu truyền thống trong truyện Lục Vân Tiên:

– Cốt truyện xoay quanh diễn biến cuộc dời nhân vật chính (Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga).

– Theo lối chương hồi.

– Mang tính khuôn mẫu theo kiểu gặp nạn, cứu nạn

* Ý nghĩa:

– Truyền dạy đạo lí làm người.

– Xem trọng tình nghĩa con người.

– Đề cao tinh thần nghĩa hiệp, cứu khốn phò nguy.

– Thể hiện niềm tin vào con người, lẽ phải trên đời.

Câu 2. Đọc đoạn trích, em cảm nhận Lục Vân Tiên là một con người như thế nào. Hãy phân tích những phẩm chất của nhân vật qua hành động đánh cướp và qua cách cư xử với Kiều Nguyệt Nga.

Trả lời:

Nhân vật Lục Vân Tiên

– Khi đánh cướp

+ Dũng cảm, dám xả thân vì nghĩa.

+ Trong trận chiến: với những từ ngữ đặc tả, biện pháp so sánh, thành ngữ đặc tả.

→ Lục Vân Tiên hiện ra như một danh tướng dũng mãnh, tài năng, kín võ với tư thế chủ động đánh nhanh liên tiếp, áp đảo quân thù.

– Qua cuộc trò chuyện với Kiều Nguyệt Nga

+ Hỏi han, an ủi người gặp nạn một cách ân cần.

+ Người có cách cư xử tế nhị, có văn hóa theo quan điểm của đạo đức lễ giáo phong kiến.

+ Hành động vì nghĩa vô tư, hòa hiệp theo quan điểm của một quân tử anh hùng.

⇒ Lục Vân Tiên là một trang anh hùng hảo hán, tài hoa dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài là hiện thân của lý tưởng nhân nghĩa, là hình bóng mơ ước của Nguyễn Đình Chiểu.

Câu 3. Với tư cách là người chịu ơn, Kiều Nguyệt Nga trong đoạn trích này đã bộc lộ những nét đẹp tâm hồn như thế nào? Hãy phân tích điều đó qua ngôn ngữ, cử chỉ của nàng.

Trả lời:

Với tư cách là một người chịu ơn, Kiều Nguyệt Nga trong đoạn trích hiện lên:

– Là một cô gái khuê các, thùy mị, nết na, hiếu thảo.

– Trọng ân tình.

+ Dùng những từ ngữ, cách xưng hô để cảm tạ ân nhân.

+ Bày tỏ ý nguyện đền đáp công lao.

⇒ Kiều Nguyệt Nga là một cô gái có tâm hồn trong sáng, hiền thảo, nết na, trọng ân tình.

Câu 4. Theo em, nhân vật trong đoạn trích này được miêu tả chủ yếu qua ngoại hình, nội tâm hay hành động, cử chỉ? Điều đó cho thấy truyện Lục Vân tiên gần với loại truyện nào mà em đã học?

Trả lời:

Nhân vật trong đoạn trích này được miêu tả chủ yếu thông qua hành động, cử chỉ để làm nổi bật tích cách, tâm hồn nhân vật. Qua đó, có thể thấy Truyện Lục Vân Tiên gần với loại truyện Nôm khuyết danh và thể loại truyện kể dân gian.

Câu 5. Em xó nhận xét gì về ngôn ngữ của tác giả trong đoạn thơ trích?

Trả lời:

Ngôn ngữ của tác giả trong đoạn trích: Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc gần với lời ăn tiếng nói thông thường, mang đậm màu sắc địa phương Nam Bộ nên phù hợp với ngôn ngữ người kể chuyện, tự nhiên, hợp lí.

Soạn phần luyện tập bài Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga trang 116 SGK ngữ văn 9 tập 1

Câu 1. Hãy phân biệt sắc thái riêng từng lời thoại của mỗi nhân vật trong đoạn trích (Phong Lai, Vân Tiên, Nguyệt Nga), đọc diễn cảm đoạn thơ.

Trả lời:

– Lỡi lẽ của Lục Vân Tiên với kẻ ác thì thẳng thắn, cảnh cáo còn với người gặp nạn thì ân cần hỏi han, lịch sự.

– Lời lẽ của Kiều Nguyệt Nga thì dịu dàng, lễ phép: “Thưa rằng: Tôi Kiều Nguyệt Nga…”

– Lời lẽ của Phong Lai thì ngông nghênh “Thằng nào dám tới lẫy lừng vào đây”.

(BAIVIET.COM)