Soạn bài – Kiểm tra phần Tiếng Việt

Soạn bài Kiểm tra phần Tiếng Việt trang 204 – 206 SGK ngữ văn lớp 9 tập 1. Để học tốt hơn danh sách các bài tập trong bài Kiểm tra phần Tiếng Việt, sau đây là hướng dẫn soạn bài đầy đủ, ngắn gọn và chi tiết nhất.

Hướng dẫn soạn bài – Kiểm tra phần Tiếng Việt

Giải câu 1 – Kiểm tra phần Tiếng Việt (Trang 204 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Vận dụng kiến thức đã học về từ láy để phân tích nét nổi bật của việc dùng từ trong những câu thơ sau:

Nao nao dòng nước uốn quanh,

Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.

Sè sè nấm đất bên đường,

Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Trả lời:

– Các từ láy: nao nao, nho nhỏ, sè sè, rầu rầu.

– Đây đều là các từ láy gợi nhẹ gợi tả hình ảnh, sự vật một cách tinh tế. Qua đó góp phần thể hiện tâm trạng và gợi cảm xúc người đọc.

+ Nao nao – nho nhỏ: gợi tả cảnh mang nét thanh tao, trong trẻo, êm dịu mùa xuân, thể hiện tâm trạng bâng khuâng, xao xuyến vì ngày vui sắp tàn và dự cảm một điều sắp xảy ra.

+ Sè sè – rầu rầu: gợi tả nấm mồ cô chủ quá nhỏ bé, sơ sài, lẻ loi, gợi cảm giác tội nghiệp, thê lương, ảm đạm.

Giải câu 2 – Kiểm tra phần Tiếng Việt (Trang 204 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Đọc lại đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều (tr. 97 – 98). Tìm lời dẫn trực tiếp trong đoạn trích. Nêu nhận xét về cách xưng hô, nói năng của Mã Giám Sinh và bà mối.

Trả lời:

Lời dẫn trực tiếp trong đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều:

– Hỏi tên, rằng: “Mã Giám Sinh”

Hỏi quê rằng: “Huyện Lâm Thanh cũng gần”.

– Rằng: “Mua ngọc đến Lam Kiều”

Mối rằng: “Giá đáng nghìn vàng…”.

– Cách xưng hô, nói năng của Mã Giám Sinh: ăn nói cộc lốc, mập mờ nhằm che giấu hành tung của mình.

– Cách xưng hô, nói năng của bà mối đưa đẩy, nhún nhường, vòng vo của những kẻ chuyên làm nghề mối lái.

Giải câu 3 – Kiểm tra phần Tiếng Việt (Trang 205 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

Chúng kể cho tôi nghe cuộc sống buồn tẻ của chúng, và những chuyện đó làm tôi buồn lắm; chúng kể cho tôi nghe về những con chim tôi bẫy được đang sống ra sao và nhiều chuyện trẻ con khác, nhưng tôi nhớ lại thì chưa bao giờ chúng nói một lời nào về bố và về dì ghẻ. Thường thì chúng chỉ đề nghị tôi kể truyện cổ tích; tôi kể lại những truyện bà tôi đã kể, và nếu quên chỗ nào, tôi bảo chúng đợi, rồi chạy về nhà hỏi lại bà tôi. Thấy thế bà tôi thường rất hài lòng.

Tôi cũng kể cho chúng nghe nhiều về bà tôi; một hôm thằng lớn thở dài nói:

Có lẽ tất cả các bà đều rất tốt, bà tớ ngày trước cũng rất tốt

Nó thường nói một cách buồn bã: ngày trước, trước kia, đã có thời… dường như nó đã sống trên trái đất này một trăm năm, chứ không phải mười một năm.

(M. Go-rơ-ki, Thời thơ ấu)

a) Trong số những từ ngữ hoặc câu được in đậm (cuộc sống buồn tẻ của chúng … về những con chim tôi bẫy được đang sống ra sao và nhiều chuyện trẻ con khác … tôi kể truyện cổ tích … Có lẽ tất cả các bà đều rất tốt, bà tớ ngày trước cũng rất tốt … ngày trước, trước kia, đã có thời…) đâu là lời dẫn trực tiếp, đâu là lời dẫn gián tiếp, đâu không phải là lời dẫn?

b) Vận dụng những phương châm hội thoại đã học, giải thích vì sao nhân vật “thằng lớn” phải dùng từ có lẽ trong lời nhận xét của mình.

Trả lời:

a. – Lời dẫn trực tiếp: Có lẽ tất cả các bà đều rất tốt, bà tớ ngày trước cũng rất tốt…

– Lời dẫn gián tiếp: ngày trước, trước kia, đã có thời…

– Các từ in đậm còn lại không phải là lời dẫn.

b. Nhân vật “thằng lớn” dùng từ có lẽ để báo cho mọi người thấy rằng ý kiến mà nhân vật đưa ra chỉ là phỏng đoán, khái quát chưa chắc chắn. (Phương châm hội thoại về chất).

Giải câu 4 – Kiểm tra phần Tiếng Việt (Trang 205, 206 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Vận dụng kiến thức đã học về một số phép tu từ vựng để phân tích nét nghệ thuật độc đáo trong những câu (đoạn) sau:

a)

Một dãy núi mà hai màu mây

Nơi nắng nơi mưa, khí trời cũng khác

Như anh với em, như Nam với Bắc

Như đông với tây một dải rừng liền.

(Phạm Tiến Duật, Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây)

b) Khi tâm hồn ta đã rèn luyện thành một sợi dây đàn sẵn sàng rung động trước mọi vẻ đẹp của vũ trụ, trước mọi cái cao quý của cuộc đời, chúng ta là người một cách hoàn toàn hơn.

(Thạch Lam, Theo dòng)

c) Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù. Tre xung phong vào xe tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh , giữ đồng lúa chín. Tre hi sinh để bảo vệ con người. Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu!

(Thép Mới, Cây tre Việt Nam)

Trả lời:

a. Đoạn thơ dùng ba lần phép so sánh liên tiếp hai dãy núi Trường Sơn như hai con người, như hai miền Nam – Bắc, như hai hướng của một dải rừng. Tất cả thể hiện sự gắn bó không gì có thể chia cắt dù có sự khác biệt với nhau.

b. Ẩn dụ ngầm vì tâm hồn con người như dây đàn làm cho lòng người xao xuyến thể hiện tâm hồn nhạy cảm, dễ rung động trước mọi vẻ đẹp cuộc đời, một người một cách hoàn toàn hơn.

c. Biện pháp nhân hóa kết hợp điệp ngữ: tre, giữ, anh hùng được lặp lại nhiều lần tạo sự nhẹ nhàng câu văn, nhấn mạnh vai trò cây tre trong cuộc kháng chiến cứu nước.

Giải câu 5 – Kiểm tra phần Tiếng Việt (Trang 206 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Cho biết cách nói nào trong số những cách nói sau có sử dụng phép nói quá: chưa ăn đã hết, đẹp tuyệt vời, một tấc đến trời, không một ai có mặt, một chữ bẻ đôi không biết, sợ vã mồ hôi, cười vỡ bụng, rụng rời chân tay, tức lộn ruột, tiếc đứt ruột, ngáy như sấm, nghĩ nát óc, đứt từng khúc ruột.

Trả lời:

Cách nói sử dụng phép nói quá: chưa ăn đã hết, một tấc đến trời, một chữ bẻ đôi khong biết, cười vỡ bụng, rụng rời chân tay, tức lộn ruột, tiếc đứt ruột, ngáy như sấm, nghĩ nát óc, đứt từng khúc ruột.

Tham khảo thêm cách soạn khác bài Kiểm tra phần Tiếng Việt

Câu 1. Vận dụng kiến thức đã học về từ láy để phân tích nét nổi bật của việc dùng từ trong những câu thơ sau:

Nao nao dòng nước uốn quanh,

Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.

Sè sè nấm đất bên đường,

Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Trả lời:

Những từ láy nao nao, nho nhỏ, sè sè, rầu rầu vừa tả cảnh, vừa tả tâm trạng. Nó gợi vẻ hoang vắng, trơi trọi, buồn tẻ của ngôi mộ vô chủ và tâm trạng nao nao buồn của ba chị em Thúy Kiều vào thời điểm cuối ngày hội đạp thanh đồng thời báo hiệu một sự kiện sắp xảy ra.

Câu 2. Đọc lại đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều. Tìm lời dẫn trực tiếp trong đoạn trích. Nêu nhận xét về cách xưng hô, nói năng của Mã Giám Sinh và bà mối.

Trả lời:

– Trong đoạn “Mã Giám Sinh mua Kiều” có các lời dẫn trực tiếp:

Hỏi tên, rằng: “Mã Giám Sinh”,

Hỏi quê rằng: “Huyện Lâm Thanh cũng gần”.

Rằng: “Mua ngọc đến Lam Kiều”

Mối rằng: “Giá đáng nghìn vàng …”

(Các lời dẫn đều được báo trước bằng từ rằng và phần trích lời nhân vật đặt trong dấu ngoặc kép)

– Lời của Mã Giám Sinh vừa trịnh thượng, vô học (nói năng cộc lốc ở phần giới thiệu lai lịch), vừa kiểu cách giả tạo. Lời của mụ mối đưa đẩy, vòng vo, nhún nhường giả tạo, đúng là kẻ chuyên nghề mối lái.

Câu 3. Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

Chúng kể cho tôi nghe cuộc sống buồn tẻ của chúng, và những chuyện đó làm tôi buồn lắm; chúng kể cho tôi nghe về những con chim tôi bẫy được đang sống ra sao và nhiều chuyện trẻ con khác, nhưng tôi nhớ lại thì chưa bao giờ chúng nói một lời nào về bố và về dì ghẻ. Thường thì chúng chỉ đề nghị tôi kể truyện cổ tích; tôi kể lại những truyện bà tôi đã kể, và nếu quên chỗ nào, tôi bảo chúng đợi, rồi chạy về nhà hỏi lại bà tôi. Thấy thế bà tôi thường rất hài lòng.

Tôi cũng kể cho chúng nghe nhiều về bà tôi; một hôm thằng lớn thở dài nói:

Có lẽ tất cả các bà đều rất tốt, bà tớ ngày trước cũng rất tốt

Nó thường nói một cách buồn bã: ngày trước, trước kia, đã có thời… dường như nó đã sống trên trái đất này một trăm năm, chứ không phải mười một năm.

(M. Go-rơ-ki, Thời thơ ấu)

a) Trong số những từ ngữ hoặc câu được in đậm (cuộc sống buồn tẻ của chúng … về những con chim tôi bẫy được đang sống ra sao và nhiều chuyện trẻ con khác … tôi kể truyện cổ tích … Có lẽ tất cả các bà đều rất tốt, bà tớ ngày trước cũng rất tốt … ngày trước, trước kia, đã có thời…) đâu là lời dẫn trực tiếp, đâu là lời dẫn gián tiếp, đâu không phải là lời dẫn?

b) Vận dụng những phương châm hội thoại đã học, giải thích vì sao nhân vật “thằng lớn” phải dùng từ có lẽ trong lời nhận xét của mình.

Trả lời:

a. Trong đoạn chỉ có một lời dẫn trực tiếp là phần lời thoại (được đánh dấu bằng dấu gạch đầu dòng), một lời dẫn gián tiếp đặt sau dấu hai chấm. Các phần in đậm còn lại là lời kể, không phải lời dẫn.

b. Nhân vật “thằng lớn” phải dùng từ có lẽ để báo cho người nghe biết ý kiến của nó chỉ là suy đoán (phương châm về chất)

Câu 4. Vận dụng kiến thức đã học về một số phép tu từ vựng để phân tích nét nghệ thuật độc đáo trong những câu (đoạn) sau:

a)

Một dãy núi mà hai màu mây

Nơi nắng nơi mưa, khí trời cũng khác

Như anh với em, như Nam với Bắc

Như đông với tây một dải rừng liền.

(Phạm Tiến Duật, Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây)

b) Khi tâm hồn ta đã rèn luyện thành một sợi dây đàn sẵn sàng rung động trước mọi vẻ đẹp của vũ trụ, trước mọi cái cao quý của cuộc đời, chúng ta là người một cách hoàn toàn hơn.

(Thạch Lam, Theo dòng)

c) Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù. Tre xung phong vào xe tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh , giữ đồng lúa chín. Tre hi sinh để bảo vệ con người. Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu!

(Thép Mới, Cây tre Việt Nam)

Trả lời:

a. Phép so sánh tu từ: hai phía của dãy Trường Sơn cũng như hai con người (anh và em), hai miền đất (Nam và Bắc), hai hướng (đông và tây) của một dải rừng, luôn gắn bó keo sơn, không gì có thể chia cắt được.

b. Phép ẩn dụ tu từ: dùng “sợ dây đàn” để chỉ tâm hồn con người, nhằm nói đến một tâm hồn rất nhạy cảm, dễ rung động trước cuộc sống.

c. Phép điệp ngữ và nhân hóa:

–  Những từ “tre”, “giữ”, “anh hùng” được lặp đi lặp lại nhiều lần và tác giả cũng nhân hóa tre, coi tre như một con người, một công dân xả thân vì quê hương, đất nước. Ngoài tác dụng tạo nên sự nhịp nhàng cho câu văn, phép điệp ngữ còn có tác dụng nhấn mạnh đến hình ảnh cây tre với những chiến công của nó.

– Phép nhân hóa làm cho hình ảnh cây tre gần gũi với con người hơn, gây ấn tượng với người đọc nhiều hơn.

Câu 5. Cho biết cách nói nào trong số những cách nói sau có sử dụng phép nói quá: chưa ăn đã hết, đẹp tuyệt vời, một tấc đến trời, không một ai có mặt, một chữ bẻ đôi không biết, sợ vã mồ hôi, cười vỡ bụng, rụng rời chân tay, tức lộn ruột, tiếc đứt ruột, ngáy như sấm, nghĩ nát óc, đứt từng khúc ruột.

Trả lời:

Phép tu từ nói quá là cách nói quá mức sự thật (số lượng, mức độ) để diễn tả được sự thật (về bản chất). Như vậy ở đây, chỉ trừ ba trường hợp (đẹp tuyệt vời, không một ai có mặt, sợ vã mồ hôi), còn lại đều là nói quá.

(BAIVIET.COM)