Soạn bài: Hồi trống Cổ Thành (La Quán Trung)

Soạn bài Hồi trống Cổ Thành (La Quán Trung) trang 86 – 88 SGK ngữ văn lớp 10 tập 2. Để học tốt hơn danh sách các bài tập trong bài Hồi trống Cổ Thành (trích hồi 28 – Tam quốc diễn nghĩa), sau đây là hướng dẫn soạn bài đầy đủ, ngắn gọn và chi tiết nhất.

TIỂU DẪN

Tác giả La Quán Trung (1330-1400?) tên Lan Bản, hiệu Hồ Hải tản nhân, người vùng Thái Nguyên thuộc tỉnh Sơn Tây cũ. Ông lớn lên vào cuối thời Nguyên đầu thời Minh, tính tình cô độc, lẻ loi, thích một mình ngao du đây đó. Khi Minh Thái Tổ đánh đuổi được quân Mông Cổ, thống nhất đất nước, ông chuyên tâm sưu tầm và biên soạn dã sử. Ngoài Tam quốc diễn nghĩa, ông còn viết Tùy Đường lưỡng triều chí truyện, Tấn Đường ngũ đại sử diễn nghĩa, Bình yêu truyện,…

La Quán Trung là người đầu tiên đóng góp xuất sắc cho trường phái tiểu thuyết lịch sử thời Minh – Thanh ở Trung Quốc. Tam quốc diễn nghĩa có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Tam quốc diễn nghĩa ra đời vào đầu thời Minh (1368-1644), gồm 120 hồi, kể chuyện một nước chia ba gọi là “cát cứ phân tranh” (1) trong gần 100 năm của nước Trung Quốc thời cổ (thế kỉ II, III). Đó là cuộc phân tranh giữa ba tập đoàn phong kiến quân phiệt: Ngụy – do Tào Tháo cầm đầu, chiếm giữ phía bắc từ Trường Giang trở lên nên gọi là Bắc Ngụy; Thục – do Lưu Bị cầm đầu, chiếm giữ phía Tây Nam nên gọi là Tây Thục; Ngô – do Tôn Quyền cầm đầu, chiếm giữ phía Đông Nam nên gọi là Đông Ngô.

Tam quốc diễn nghĩa phơi bày cục diện chính trị Trung Hoa mà đường nét nổi bật là “cát cứ phân tranh”, cá lớn nuốt cá bé, chiến tranh liên miên, nhân dân đói khổ, điêu linh. Trong một thời kì như vậy, nhân dân mong muốn hòa bình, ổn định, thống nhất. Nguyện vọng đó được gửi gắm vào một triều đình có ông vua biết thương dân, có văn võ bá quan biết thực hiện đường lối “nhân chính”. Ông vua đó là Lưu Bị, triều đình đó là nhà Thục. Nhà Thục có vua Lưu Bị dòng dõi nhà Hán, biết thương dân và vì dân, tượng trưng cho chữ nhân, có các mưu sĩ giỏi nhu Khổng Minh, tượng trưng cho chữ trí, lại có năm tướng giỏi (ngũ hổ tướng) như Quan Công, Trương Phi, Triệu Vân, Mã Siêu, Hoàng Trung, tượng trưng cho chữ dũng. Họ lại trên dưới một lòng vì sự nghiệp chung mà biểu tượng là ba anh em kết nghĩa Lưu, Quan, Trương – vua tôi mà là anh em, thề sống chết bên nhau vì sự nghiệp khôi phục nhà Hán. Đối lập với họ là phía Tào Tháo và triều đình Tào Ngụy.

Đoạn trích thuộc hồi 28, trước đó ba anh em Lưu, Quan, Trương náu mình dưới trướng Tào Tháo. Hiểu được bản chất gian hùng của Tào Tháo, họ tìm cách bỏ đi. Tháo cho quân đuổi đánh, ba anh em thất tán mỗi người một ngả. Quan Công vì phải hộ tống hai chị dâu (vợ Lưu Bị) nên tạm hàng Tào Tháo với điều kiện hàng Hán chứ không hàng Tào (vua Hán đang bị Tào khống chế); hễ biết tin anh ở đâu là sẽ đi ngay. Tào Tháo tìm cách thu phục Quan Công: ba ngày một tiệc nhỏ, năm ngày một tiệc lớn, lại ban thưởng chức tước, vàng bạc, mĩ nữ,… Nhưng Quan Công “thân tại Tào doanh, tâm tại Hán” – vừa nghe tin Lưu Bị đang ở bên Viên Thiệu là lập tức trả hết ấn tín, vàng bạc châu báu, lên ngựa đi tìm anh. Trên đường đi, bị các tướng Tào ngăn cản, Quan Công vung long đao chém luôn sáu tướng, vượt năm cửa quan. Đến Cổ Thành, gặp được Trương Phi, vui mừng khôn xiết. Nào ngờ…

VĂN BẢN

/…/ Châu Thương theo Quan Công sang Nhữ Nam. Đi được vài ngày, trông xa xa trên đỉnh núi có một tòa thành. Quan Công hỏi người địa phương là thành nào. Người địa phương thưa:

– Đây gọi là Cổ Thành. Mấy tháng trước, có một tướng, tên gọi là Trương Phi, dẫn vài mươi quân kị (1) đến, đuổi quan huyện đi, chiếm lấy thành, mộ quân tậu ngựa, chứa cỏ tích lương (2) nay có đến ba nghìn quân mã. Chung quanh đây không ai dám chống lại.

Quan Công nghe nói, mừng rỡ vô cùng:

– Em ta từ khi thất tán (3) ở Từ Châu, lâu nay vẫn không biết ở đâu, ai ngờ lại hóa ra ở đây!

Liền sai ngay Tôn Càn vào thành báo tin, bảo Trương Phi ra đón hai chị.

Trương Phi từ khi trốn vào núi Mang Đãng ở hơn một tháng, một hôm ra ngoài nghe ngóng tin tức Huyền Đức, chợt đi qua Cổ Thành, vào huyện vay lương thực. Quan huyện không cho vay. Phi nổi giận đuổi quan huyện đi, cướp lấy ấn thụ (4), chiếm thành, tạm lấy chốn nương thân.

Hôm ấy Tôn Càn theo lệnh Quan Công vào thành ra mắt Trương Phi. Thi lễ (5) xong, nói chuyện Huyền Đức đã bỏ Viên Thiệu sang Nhữ Nam, Vân Trường thì ở Hứa Đô, vừa đưa hai phu nhân (6) đến đây. Rồi mời Trương Phi ra đón.

Phi nghe xong, chẳng nói chẳng rằng, lập tức mặc áo giáp, vác mâu (7) lên ngựa, dẫn một nghìn quân, đi tắt ra cửa bắc. Tôn Càn thấy lạ, nhưng không dám hỏi cũng phải theo ra thành.

Quan Công trông thấy Trương Phi ra, mừng rỡ vô cùng, giao long đao (8) cho Châu Thương cầm, tế ngựa lại đón. Trương Phi mắt trợn tròn xoe, râu hùm vểnh ngược, hò hét như sấm, múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công.

Quan Công giật mình, vội tránh mũi mâu, hỏi:

– Hiền đệ cớ sao như thế, há quên nghĩa vườn đào ru?

Trương Phi hầm hầm quát:

– Mày đã bội nghĩa (9), còn mặt nào đến gặp tao nữa?

Quan Công nói:

– Ta thế nào mà bội nghĩa?

Trương Phi nói:

– Mày bỏ anh, hàng Tào Tháo, được phong hầu tứ tước (10), nay lại đến đây đánh lừa tao! Phen này tao quyết liều sống chết với mày!

Quan Công nói:

– Chuyện này em không biết, ta cũng khó nói. May có hai chị ở đây, em đến mà hỏi.

Hai phu nhân nghe thấy thế, vội vàng vén màn xe, gọi:

– Chú Ba sao lại thế?

Phi nói:

– Xin hai chị hãy thong thả, để tôi giết thằng phụ nghĩa này đã, rồi sẽ mời hai chị vào thành.

Cam phu nhân nói:

– Khoan đã chú Ba, khoan đã! Chớ hấp tấp mà làm càn bây giờ, chú Hai không biết tin tức mọi người nên phải tạm nương mình bên Tào. Nay đã biết anh nhà ở Nhữ Nam, không ngại hiểm trở, đưa bọn ta đến đây. Chú không được nghĩ lầm như thế!

Mi phu nhân cũng nói:

– Chú Hai trước ở Hứa Đô, thật là bất đắc dĩ.

Phi nói:

– Hai chị bị lừa dối đấy. Trung thần (11) thà chịu chết không chịu nhục. Có lẽ đâu đại trượng phu (12) lại thờ hai chủ?

Quan Công nói:

– Hiền đệ đừng nói vậy, oan uổng quá!

Tôn Càn nói:

– Vân Trường đến đây là cốt để tìm tướng quân.

Trương Phi mắng:

– Mày cũng nói láo, nó đâu có bụng tốt, nó lại đây tất là để bắt ta đó!

Quan Công nói:

– Nếu ta đến bắt em, tất phải đem theo quân mã chứ!

Trương Phi trỏ tay đằng xa, nói:

– Không phải quân mã là gì kia?

Quan Công ngoảnh lại, quả nhiên thấy bụi bay mù trời, một toán quân mã kéo đến, cờ hiệu phấp phới chính là cờ Tào. Trương Phi nổi giận nói:

– Bây giờ còn chối nữa thôi?

Rồi múa bát xà mâu hăm hở xông lại đâm Quan Công. Quan Công vừa đỡ vừa can:

– Hiền đệ hãy khoan, xem ta chém tên tướng ấy, để tỏ lòng thực của ta!

Trương Phi nói:

– Nếu mày quả có lòng thực, ta đánh ba hồi trống, mày phải chém được tên tướng ấy.

Quan Công nhận lời.

Một lát, quân tào kéo đến, Sái Dương đi đầu, vác đao tế ngựa xông đến, quát to:

– Mày giết cháu ngoại tao là Tần Kì, lại trốn đến đây. Tao phụng mệnh Thừa tướng đến bắt mày.

Quan Công chẳng nói một lời, múa long đao xô lại, Trương Phi thẳng cánh đánh trống. Chưa dứt một hồi, đầu Sái Dương đã lăn dưới đất. Quân Tào chạy tan tác. Quan Công bắt một tên lính cầm cờ hiệu hỏi chuyện đầu đuôi. Tên lính thưa:

– Sái Dương nghe tin tướng quân giết cháu ngoại là Tần Kì, nổi giận đùng đùng, muốn sang Hà Bắc đánh nhau với tướng quân, Thừa tướng (13) không cho đi, nhân sai sang Nhữ Nam đánh Lưu Tích, không ngờ đi đến đây lại gặp tướng quân.

Quan Công sai tên lính đến kể chuyện ấy cho Trương Phi nghe. Phi hỏi kĩ việc ở Hứa Đô. Tên lính kể hết nông nỗi từ đầu đến cuối. Bấy giờ Phi mới tin anh là thực /…/ Phi mời hai chị vào thành.

Vào đến nhà, hai bà mới kể lại những việc Quan Công đã trải qua. Trương Phi nghe hết chuyện, rỏ nước mắt khóc, thụp lạy Vân Trường (14)…

Theo bản dịch của PHAN KẾ BÍNH, BÙI KỈ hiệu đính
(Tam quốc diễn nghĩa, NXB Phổ thông, Hà Nội, 1959)

CHÚ THÍCH:

(1) Quân kị: lính cưỡi ngựa.

(2) Lương: lương thực.

(3) Thất tán: tan tác mỗi người một nơi.

(4) Ấn thụ: con dấu.

(5) Thi lễ: chào hỏi.

(6) Phu nhân: vợ. Đây là vợ của Lưu Bị.

(7) Mâu : (còn gọi là xà mâu, bát xà mâu hoặc trượng bát xà mâu) một loại vũ khí cổ, cán dài, đầu nhọn.

(8) Long đao: cây đao lớn có chạm hình con rồng.

(9) Bội nghĩa: phản bội lại lời thế kết nghĩa. Ba anh em Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi kết nghĩa nơi vườn đào, thề sống chết bên nhau.

(10) Phong hầu tứ tước: phong hầu và ban cho tước vị.

(11) Trung thần: bề tôi trung.

(12) Đại trượng phu: người đàn ông cao thượng, có tài năng xuất chúng.

(13) Thừa tướng: chức quan cao nhất trong triều đình, thừa lệnh vua cầm quân trị nước. Ở đây chỉ Tào Tháo.

(14) Vân Trường: tức Quan Vân Trường, còn gọi là Quan Vũ, Quan Công.

Hướng dẫn soạn bài – Hồi trống Cổ Thành (La Quán Trung)

I. Tóm tắt: Hồi trống Cổ Thành

Quan Công dẫn hai chị chạy đến Cổ Thành thì nghe nói Trương Phi đang ở đó. Ông mừng rỡ sai Tôn Càn vào thành báo tin cho Trương Phi ra đón. Nghe tin báo, Trương Phi lập tức mặc áo giáp, vác mâu lên ngựa, dẫn nghìn quân, đi tắt ra cửa Bắc. Gặp Trương Phi, Quan Công vô cùng mừng rỡ. Nhưng Trương Phi nghi ngờ Quan Công đã hàng Tào, bội nghĩa vườn đào nên vác mâu xông tới đâm Quan Công mặc cho Quan Công và hai vị phu nhân hết lời thanh minh. Giữa lúc đang bối rối thì đột nhiên ở đằng xa, Sái Dương mang quân Tào đuổi tới khiến Trương Phi càng thêm tức giận, buộc Quan Công phải lấy đầu ngay tên tướng đó để chứng thực lòng trung. Chưa dứt một hồi trống giục, đầu Sái Dương đã lăn dưới đất. Lúc này, Trương Phi mới tin lời Quan Công. Trương Phi mời hai chị vào thành rồi cúi đầu sụp lạy xin lỗi Quan Công.

II. Bố cục

Đoạn 1: (từ đầu đến… bảo Trương Phi ra đón hai chị): Giới thiệu nhân vật, sự việc, hoàn cảnh trong câu chuyện.

Đoạn 2: (từ Trương Phi từ khi… đến… cũng phải theo ra thành): Mâu thuẫn giữa Trương Phi và Quan Công nảy sinh.

Đoạn 3: (từ ” Quan Vũ trông thấy Trương Phi ra… đến… Không phải quân mã là gì kia): Các biến cố tiếp diễn.

Đoạn 4: (từ Quan Công ngoảnh lại… đến… Thừa tướng đến bắt mày): Sự xuất hiện của Sái Dương với mục đích trả thù Quan Công.

Đoạn 5: (phần còn lại): Việc Quan Công chém rơi đầu Sái Dương và anh em nhận ra tấm lòng của nhau.

III. Hướng dẫn soạn bài Hồi trống Cổ Thành (La Quán Trung)

Giải câu 1 (Trang 79 SGK ngữ văn 10 tập 2)

Tại sao Trương Phi nổi giận định đâm chết Quan Công?

Trả lời:

Trương Phi là con người ngay thẳng, không chấp nhận sự phản bội, lắt léo, quanh co nào, với kẻ thù chỉ có thể nói chuyện bằng gươm đao. Vì thế, mặc dù rất nặng lòng và coi trọng lời thề sắt son năm xưa, nhưng trong suy nghĩ của Trương Phi, Quan Vũ theo Tào phản bộ anh em, đã phản bội còn rêu rao “nghĩa vườn đào” là hoàn toàn không xứng, là đáng phỉ nhổ, đáng giết. Thế nên vừa nghe tin Quan Công đến, Trương Phi chẳng nói chẳng rằng lên ngựa đi tắt … múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công.

Giải câu 2 (Trang 79 SGK ngữ văn 10 tập 2)

Vì sao có thể đặt nhan đề cho đoạn trích là Hồi trống Cổ Thành?

Trả lời:

Trong đoạn trích này, “hồi trống Cổ Thành” trở thành một biểu tượng nghệ thuật. Nó có ý nghĩa:

– Biểu dương tính trung nghĩa của Trương Phi.

– Ca ngợi tình nghĩa anh em của Lưu, Quan, Trương.

– Hồi trống thách thức, minh oan và đoàn tụ anh em.

Giải câu 3 (Trang 79 SGK ngữ văn 10 tập 2)

Có ý kiến cho rằng “nóng như Trương Phi” còn là nóng lòng muốn biết sự thực, nóng lòng xác định phải trái, đúng sai, chứ không phải chỉ là nóng nảy do cá tính gàn dở. Anh (chị) có đồng ý không? Vì sao?

Trả lời:

Ý kiến trên là có lí. Nói Trương Phi là người nóng tính vì nhân vật này thiếu bình tĩnh trước những tình huống đột ngột khó giải quyết. Con người này thường hay phản ứng tức thì, thiếu những suy nghĩ chín chắn, nhưng cũng là người không chịu được những lắt léo, quanh co nên khi có hồ nghi, Trương Phi muốn nhanh chóng làm rõ mọi sự trắng đen. Tính cách của Trương Phi có điểm tốt là sự cương trực, thẳng thắn, nhưng nó cũng tạo ra sự lỗ mãng và thô bạo.

Giải câu 4 (Trang 79 SGK ngữ văn 10 tập 2)

Tại sao nói: Nếu không có chi tiết Trương Phi thẳng tay giục trống thì đoạn văn sẽ tẻ nhạt, mất hết ý vị Tam quốc?

Trả lời:

– Tam quốc diễn nghĩa giàu màu sắc hùng tráng, mang hơi hướng của sử thi anh hùng, âm vang âm hưởng anh hùng ca chiến trận với những việc to lớn, siêu phàm.

– Chi tiết Trương Phi thẳng tay giục trống là cao trào của truyện, nó khiến cho cuộc hội ngộ và giải oan mang màu sắc của một bản hùng ca.

– Hồi trống giục vừa là thước đo tài năng của Quan Công, vừa thể hiện tính cách bộc trực của Trương Phi, vừa tạo ra không khí hào hùng của thời Tam quốc phân tranh.

– Nó làm cho đoạn văn đậm đà không khí chiến trận và khí phách anh hùng, đậm đà “ý vị Tam quốc”.

Soạn phần luyện tập bài Hồi trống Cổ Thành (La Quán Trung)

Giải câu 1 – Luyện tập (Trang 79 SGK ngữ văn 10 tập 2)

Kể lại câu chuyện bằng một đoạn văn khoảng 30 dòng.

Trả lời:

Tóm tắt “Hồi trống Cổ Thành”

Đoạn trích Hồi trống Cổ Thành thuộc hồi 28. Quan Công đưa hai chị sang Nhữ Nam. Kéo quân đến Cổ Thành thì nghe nói Trương Phi đang ở đó. Quan Công mừng rỡ sai Tôn Càn vào thành báo Trương Phi ra đón hai chị.

Trương Phi khi ấy đang tức giận, nghe tin báo liền sai quân lính mở cổng thành, rồi một mình một ngựa vác bát xà mâu lao đến đòi giết Quan Công. Quan Công bị bất ngờ nhưng rất may tránh kịp nên không mất mạng. Đang nóng giận, Trương Phi nhất quyết không chịu ghi nhận lòng trung của Quan Công dù cả hai vị phu nhân đã hết lời thanh minh sự thật.

Giữa lúc đang bối rối thì đột nhiên ở đằng xa, Sái Dương mang Quân Tào đuổi tới. Trương Phi càng thêm tức giận, buộc Vân Trường phải lấy đầu ngay tên tướng đó để chứng thực lòng trung. Quan Công không nói một lời, múa long đao xô lại. Chưa đứt một hồi trống giục, đầu Sái Dương đã lăn dưới đất. Bấy giờ, Phi mới tin anh là thực. Phi mời hai chị vào thành rồi cúi đầu sụp lạy xin lỗi Quan Công.

Giải câu 2 – Luyện tập (Trang 79 SGK ngữ văn 10 tập 2)

Tính cách của Trương Phi được biểu hiện qua những chi tiết nào?

Trả lời:

Tính cách của nhân vật Trương Phi được biểu hiện qua những chi tiết:

– Trương Phi là một dũng tướng, tính cách ngay thẳng, cương trực và đơn giản, nóng nảy.

+ Khi nghe Quan Công thanh minh: Trương Phi giận dữ, khinh miệt (“mày đã bội nghĩa còn mặt nào đến gặp tao nữa?”).

– Trương Phi là người rất cương trực, rõ ràng.

+ Hai chị và Tôn Càn thanh minh: như đổ thêm dầu vào lửa, cho Quan Công là thằng phụ nghĩa lừa cả hai chị.

– Kịch tính: Trương Phi đánh ba hồi trống buộc Quan Công phải lấy được đầu Sái Dương để chứng minh mình không bội nghĩa.

Khi Quan Công chém đầu Sái Dương, Trương Phi vẫn còn nghi ngờ, hỏi kĩ tên lính bị bắt, bắt hắn thuật lại chuyện ở Hứa Đô. Trương Phi chưa tỏ ngay thái độ, đưa hai chị dâu vào thành, nghe kể hết mọi chuyện. Bấy giờ Trương Phi mới tin hoàn toàn => Trương Phi thận trọng, tinh tế.

– Hiểu rõ sự tình, thụp lạy Quan Công, cho thấy Trương Phi biết nhận lỗi, rất tình cảm.

-> Hình ảnh Trương Phi hiện lên tuyệt đẹp, dũng cảm, cương trực, nóng nảy, vội vàng mà tinh tế và hết lòng phục thiện – một “hổ tướng” của nước Thục sau này.

Giải câu 3 – Luyện tập (Trang 79 SGK ngữ văn 10 tập 2)

Tính cách của Trương Phi và Quan Công khác nhau như thế nào?

Trả lời:

Khác với Trương Phi đã nói ở trên, Quan Công có tính cách trung nghĩa, khiêm nhường. Trước thái độ của Trương Phi, Quan Vũ vẫn nhũn nhặn, xưng hô “anh em”, “huynh đệ”, cố gắng giải thích. Khi không thể giải thích, Quan Vũ chấp nhận thử thách và đã chứng minh bằng tài trí và sự dũng mãnh. Việc lấy đầu Sái Dương khi chưa dứt một hồi trống cho thấy cái tài của viên đại tướng đứng đầu “Ngũ hổ tướng quân” đất Thục, đồng thời cởi bỏ mọi nghi ngờ của Trương Phi, khẳng định lòng trung nghĩa của Quan Vũ.

Tham khảo thêm cách soạn khác bài Hồi trống Cổ Thành (La Quán Trung)

Câu 1. Tại sao Trương Phi nổi giận định đâm chết Quan Công?

Trả lời:

Trương Phi nổi giận định đâm chết Quan Công vì Trương Phi là người cương trực, nóng nảy, với kẻ thù, với sự phản bội chỉ có thể nói chuyện bằng gươm đao. Trương Phi nghĩ rằng Quan Công hàng Tào Tháo cũng là theo giặc, là bội nghĩa, phản bội anh em.

Câu 2. Vì sao có thể đặt nhan đề cho đoạn trích là Hồi trống Cổ Thành?

Trả lời:

Nhan đề Hồi trống Cổ Thành với hình tượng hồi trống trở thành biểu tượng nghệ thuật với ý nghĩa :

– Như trút hết tâm trạng đầy mâu thuẫn, xúc động, căng thẳng của Trương Phi.

– Gợi không khí trận mạc, biểu trưng cho lòng trung nghĩa của Quan Công.

– Ca ngợi tình nghĩa vườn đào của ba anh em : Lưu – Quan – Trương.

– Hồi trống thách thức, minh oan và đoàn tụ của các anh hùng.

Câu 3. Có ý kiến cho rằng “nóng như Trương Phi” còn là nóng lòng muốn biết sự thực, nóng lòng xác định phải trái, đúng sai, chứ không phải chỉ là nóng nảy do cá tính gàn dở. Anh (chị) có đồng ý không? Vì sao?

Trả lời:

“Nóng như Trương Phi” là nóng nảy do cá tính gàn dở vì nhân vật thiếu bình tĩnh khi vừa biết tin báo đã múa xà mâu muốn đâm Quan Công. Nhưng khi mối nghi ngờ bất phân định, Trương Phi muốn Quan Công tự thanh minh cho mình bằng hành động mới thuyết phục. Đó là sự nóng nảy muốn biết sự thực, phải trái.

Câu 4. Tại sao nói: Nếu không có chi tiết Trương Phi thẳng tay giục trống thì đoạn văn sẽ tẻ nhạt, mất hết ý vị Tam quốc?

Trả lời:

Chi tiết Trương Phi thẳng tay giục trống làm nên ý vị Tam quốc và thú vị. Vì hồi trống giục lên mang đến không khí trận mạc, là điều kiện để Quan Công minh chứng lòng trung nghĩa, gan dạ của mình. Hồi trống giục còn thể hiện tính cách bộc trực của Trương Phi, vừa tạo ra không khí hào hùng thời chiến.

Soạn phần luyện tập bài Hồi trống Cổ Thành (La Quán Trung) trang 79 SGK ngữ văn 10 tập 2

Bài 1. Kể lại câu chuyện bằng một đoạn văn khoảng 30 dòng.

Trả lời:

Sau thất thủ Từ Châu, ba anh em kết nghĩa Lưu – Quan – Trương phiêu bạt mỗi người một nơi. Quan Vũ túng thế đành phải tạm náu nhờ đất Tào Tháo với điều kiện hàng Hán chứ không hàng Tào, hễ biết tin anh ở đâu là sẽ đi ngay. Ngay khi nghe tin Lưu Bị đang ở với Viên Thiệu, Quan Vũ rời bỏ đất Tào, vượt qua năm cửa ai, chém sáu tướng Tào cản đường, hộ tống hai chị dâu trở về. Trên đường đi, Quan Vũ gặp Trương Phi ở Cổ Thành. Quan Vũ hết sức mừng rỡ khi gặp lại người em kết nghĩa, nhưng không may, Trương Phi nghe tin Quan Công theo Tào phản bội an hem nên đem quân ra cửa Bắc “hỏi tội” Vân Trường. Mặc cho sự can ngăn của hai chị dâu, Trương Phi vẫn không dẹp bỏ mối nghi ngờ với Quan Công, thậm chí còn quát mắng, kể tội thậm chí múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công. May thay Quan Công tránh kịp mũi mâu. Sau quá trình đối chất căng thẳng, Trương Phi càng nóng nảy. Mãi cho tới khi thấy quân Sái Dương đuổi theo Quan Công để trả thù việc giết Tần Kì, rồi nghe được tên lính cầm cờ hiệu kể lại đầu đuôi nông nỗi, Trương Phi mới tin anh mình, rỏ nước mắt khóc, thụp lạy anh.

Bài 2. Tính cách của Trương Phi được biểu hiện qua những chi tiết nào?

Trả lời:

Tính cách nhân vật Trương Phi được biểu hiện:

– Cương trực, nóng nảy : Vay lương thực không được đã đuổi quan huyện, cướp ấn thụ, chiếm thành. Vừa hay tin Quan Công đến chẳng nói chẳng rằng mà xông ra muốn giết. Khi Tôn Càn và hai chị thanh minh chỉ như đổ thêm dầu vào lửa.

– Rất hiểu đạo lí “trung thần thà chịu chết chứ không chịu nhục” và lấy đó làm cơ sở bác bỏ những lời thanh minh.

– Cẩn trọng : Khi Sái Dương chết, Trương Phi còn nghi ngờ hỏi kĩ tên lính bị bắt.

– Biết hối lỗi và giàu tình cảm “rỏ nước mắt khóc, thụp lạy Vân Trường”.

Bài 3. Tính cách của Trương Phi và Quan Công khác nhau như thế nào?

Trả lời:

Sự khác biệt giữa tính cách Trương Phi và Quan Công:

– Quan Công trung nghĩa, khiêm nhường, vẫn nhũn nhặn xưng huynh đệ, cố gắng giải thích.

– Trương Phi nóng nảy vẫn thận trọng cũng khác hẳn sự giản đơn trong suy nghĩ hàng ngày.

(BAIVIET.COM)