Soạn bài – Con cò

Soạn bài Con cò trang 44 – 49 SGK ngữ văn lớp 9 tập 2. Để học tốt hơn danh sách các bài tập trong bài Con cò – Chế Lan Viên, sau đây là hướng dẫn soạn bài và giải bài tập đầy đủ và chi tiết nhất.

CON CÒ

I

Con cò bế trên tay
Con chưa biết con cò
Nhưng trong lời mẹ hát
Có cánh cò đang bay:
“Con cò bay la
Con cò bay lả
Con cò cổng phủ,
Con cò Đồng Đăng…”(1)
Cò một mình, cò phải kiếm lấy ăn,
Con có mẹ, con chơi rồi lại ngủ.
“Con cò ăn đêm,
Con cò xa tổ,
Cò gặp cành mềm,
Cò sợ xáo măng…”
Ngủ yên! Ngủ yên! Cò ơi, chớ sợ!
Cành có mềm, mẹ đã sẵn tay nâng!
Trong lời ru của mẹ thấm hơi xuân,
Con chưa biết con cò, con vạc.
Con chưa biết những cành mềm mẹ hát,
Sữa mẹ nhiều, con ngủ chẳng phân vân.

soan bai - con co - ngu van lop 9 tap 2

II

Ngủ yên! Ngủ yên! Ngủ yên!
Cho cò trắng đến làm quen,
Cò đứng ở quanh nôi
Rồi cò vào trong tổ.
Con ngủ yên thì cò cũng ngủ,
Cánh của cò, hai đứa đắp chung đôi.
Mai khôn lớn, con theo cò đi học,
Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân.
Lớn lên, lớn lên, lớn lên…
Con làm gì?
Con làm thi sĩ!
Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ
Trước hiên nhà
Và trong hơi mát câu văn…

III

Dù ở gần con,
Dù ở xa con,
Lên rừng xuống bể,
Cò sẽ tìm con,
Cò mãi yêu con.
Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.
À ơi!
Một con cò thôi,
Con cò mẹ hát
Cũng là cuộc đời
Vỗ cánh qua nôi.
Ngủ đi! Ngủ đi!
Cho cánh cò, cánh vạc,
Cho cả sắc trời
Đến hát
Quanh nôi.

1962
(Chế Lan Viên(*), Tuyển tập, tập I,
NXB Văn học, Hà Nội, 1985)

Chú thích:

(*) Chế Lan Viên (1920 – 1989) tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, quê ở huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị nhưng lớn lên ở Bình Định. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, Chế Lan Viên đã nổi tiếng trong phong trào Thơ mới qua tập Điêu tàn (1937). Với hơn 50 năm sáng tác, có nhiều tìm tòi sáng tạo ở những tập tơ gây được tiếng vang trong công chúng, Chế Lan Viên là một trong những tên tuổi hàng đầu của nền thơ Việt Nam thế kỉ XX. Năm 1996, ông được Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

Bài thơ Con cò được sáng tác năm 1962, in trong tập Hoa ngày thường – Chim báo bão (1967) của Chế Lan Viên.

Chú thích:

(1) Những câu thơ này lấy ý từ các câu ca dao:

– Con cò bay lả, bay la
Bay từ cổng phủ bay ra cánh đồng.

– Con cò bay lả, bay la
Bay từ cửa phủ bay về Đồng Đăng.

Đồng Đăng: thị trấn ở tỉnh Lạng Sơn, gần biên giới Việt – Trung, nổi tiếng từ xưa là nơi buôn bán sầm uất, đông vui.

Hướng dẫn soạn bài – Con cò

I. Bố cục

Bố cục gồm 3 phần:

– Đoạn I (từ đầu đến “con ngủ chẳng phân vân”): Hình ảnh con cò qua lời ru của mẹ khi con còn bé thơ.

– Đoạn II (tiếp theo đến “và trong hơi mát câu văn”): Hình ảnh con cò gắn bó với con cả cuộc đời, từ khi bé thơ, đến khi tới trường và cả mai sau.

– Đoạn III (đoạn còn lại): Dòng suy ngẫm, triết lý của nhà thơ về ý nghĩa lớn lao của tình mẹ thể hiện qua hình ảnh cánh cò và những lời hát ru.

II. Hướng dẫn soạn bài Con cò – Chế Lan Viên

Giải câu 1 (Trang 48 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Bài thơ phát triển từ một hình tượng bao trùm là hình tượng con cò trong những câu hát ru. Qua hình tượng con cò, tác giả nhằm nói về điều gì?

Trả lời:

Bài thơ phát triển từ một hình tượng bao trùm là hình tượng con cò trong những câu hát ru. Con cò trong ca dao là hình ảnh thiên nhiên, hình ảnh người nông dân, người phụ nữ trong cuộc sống cần cù, vất vả. Chế Lan Viên chỉ khai thác hình ảnh con cò là biểu trưng cho tấm lòng của mẹ và những lời hát ru.

Giải câu 2 (Trang 48 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Bài thơ được tác giả chia làm ba đoạn. Nội dung chính của mỗi đoạn là gì? Ý nghĩa biểu tượng của hình tượng con cò được bổ sung, biến đổi như thế nào qua các đoạn thơ?

Trả lời:

Bài thơ được tác giả chia làm ba đoạn:

– Đoạn 1: hình ảnh con cò qua những lời ru bắt đầu đến với tuổi ấu thơ.

– Đoạn 2: hình ảnh con cò đi vào tiềm thức của tuổi thơ, trở nên gần gũi và sẽ theo con người đi suốt cuộc đời.

– Đoạn 3: từ hình ảnh con cò, nhà thơ suy ngẫm và triết lý về ý nghĩa của lời ru và tình mẹ đối với cuộc đời mỗi con người.

Ý nghĩa biểu trưng của con cò có sự phát triển: con cò trong lời ru (đoạn 1) biến thành con cò mang tình cảm của mẹ mãi dõi theo bước chân con (đoạn 2) và trở thành biểu tượng cho lời ru, cho lòng mẹ theo con suốt đời. Con cò trong lời hát trở thành con cò nâng đỡ, dìu dắt con; thành con cò đồng hành với con suốt đời trong một tình yêu thiêng liêng, cao cả.

Giải câu 3 (Trang 48 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Trong đoạn đầu bài thơ, những câu ca dao nào đã được vận dụng? Nhận xét về cách vận dụng ca dao của tác giả.

Trả lời:

Trong đoạn đầu bài thơ, tác giả đã sử dụng những câu ca dao:

– Con cò bay lả bay la
Bay từ cổng phủ, bay ra cánh đồng
– Con cò bay lả bay la
Bay từ cửa phủ bay về Đồng Đăng
– Con cò mày đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con.

Trong hai bài ca dao trước, hình ảnh con cò gợi tả không gian và khung cảnh quen thuộc, nhịp điệu nhẹ nhàng, thong thả của cuộc sống thời xưa. Trong bài ca dao sau (Con cò mày đi ăn đêm…), hình ảnh con cò lại tượng trưng cho những con người, nhất là người phụ nữ đang nhọc nhằn, vất vả để kiếm sống nuôi con.

Giải câu 4 (Trang 48 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Ở bài thơ này có những câu thơ mang tính khái quát. Ví dụ:

– Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.

– Một con cò thôi,
Con cò mẹ hát
Cũng là cuộc đời
Vỗ cánh qua nôi.

Em hiểu như thế nào về những câu thơ trên?

Trả lời:

Hình tượng trung tâm trong bài thơ là cánh cò, nhưng cảm hứng chủ đạo lại là tình mẹ. Hình ảnh con cò đã gợi ý nghĩa biểu tượng về lòng mẹ, về sự dìu dắt, nâng đỡ đầy dịu dàng của người mẹ. Bởi vậy, những câu thơ mang tính khái quát trong bài đều là những câu thơ chan chứa tình cảm yêu thương của người mẹ:

Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.

Đó là một quy luật tình cảm bền vững và sâu sắc, thể hiện tình cảm yêu thương vô bờ bến của người mẹ. Dù ở đâu, bên mẹ hay đến phương trời khác, dù còn nhỏ hay đã lớn khôn thì con vẫn được mẹ hết lòng thương yêu, che chở.

Một con cò thôi
Con cò mẹ hát
Cũng là cuộc đời
Vỗ cánh qua nôi.

Lời ru cũng là khúc hát yêu thương. Sự hóa thân của người mẹ vào cánh cò mang nhiều ý nghĩa sâu xa, kết tụ những hi sinh, gian khổ, nhọc nhằn để những lời yêu thương càng trở nên sâu sắc, đằm thắm. Câu thơ cuối là một hình ảnh rất đẹp. Cánh cò vỗ qua nôi như dáng mẹ đang nghiêng xuống chở che, đang nói với con những lời tha thiết của lòng mẹ.

Giải câu 5 (Trang 48 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Nhận xét về thể thơ, nhịp điệu, giọng điệu của bài thơ. Các yếu tố ấy có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện tư tưởng, cảm xúc của nhà thơ?

Trả lời:

Trong bài thơ này, tác giả sử dụng thể thơ tự do nhưng các đoạn thường được bắt đầu bằng những câu thơ ngắn, có cấu trúc giống nhau, nhiều chỗ lặp gợi âm điệu lời ru. Tuy nhiên đây không phải là bài hát ru theo kiểu hát, mà lời ru gợi ra những suy ngẫm, triết lý, nên không cuốn người đọc vào giai điệu đều đều, êm ái mà hướng tâm trí vào suy ngẫm, chiêm nghiệm. Điều đó làm cho việc thể hiện cảm xúc đa dạng, nhất quán và sáng tạo.

Soạn phần luyện tập bài Con cò – Chế Lan Viên

Giải câu 1 – Luyện tập (Trang 48 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Đọc lại bài Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm (Ngữ văn 9, tập một, bài 12). Đối chiếu với bài Con cò và chỉ ra cách vận dụng lời ru của mỗi bài thơ.

Trả lời:

Cách vận dụng lời ru ở mỗi bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm và đối chiếu với bài Con cò:

Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹCon cò
– Lời ru xuất hiện đan xen với những đoạn thơ khác trong tác phẩm.

– Lời ru thể hiện tình yêu thương của người mẹ dành cho con. Tình yêu này được chuyển hóa, đồng nhất với những tình cảm lớn lao, như tình đồng bào (mẹ thương bộ đội, mẹ thương làng đói), tình yêu quê hương đất nước (mẹ thương đất nước).

– Lời ru thể hiện ước mơ của người mẹ về cuộc sống ấm no, hạnh phúc, tự do song song với nó là niềm tin vào cuộc kháng chiến của dân tộc sẽ toàn thắng.

– Lời ru xuất hiện ở Đoạn I của bài thơ.

– Lời ru là dáng hình của cội nguồn văn hóa dân gian (những lời ru truyền thống). Lời ru ấy còn nhằm khắc họa hình ảnh người mẹ tảo tần, vất vả để chăm lo cho con thơ. Những nỗi vất vả ấy mẹ âm thầm chịu đựng để con có được những giấc ngủ an lành, không phân vân.

– Lời ru mang tinh thần nhân văn, nâng đỡ những tâm hồn t

Giải câu 2 – Luyện tập (Trang 49 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Viết một đoạn bình những câu thơ sau:

Dù ở gần con,
Dù ở xa con,
Lên rừng xuống bể,
Cò sẽ tìm con,
Cò mãi yêu con.
Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.

Trả lời:

Đoạn thơ trên kết tinh những suy ngẫm, triết lý sâu sắc của nhà thơ Chế Lan Viên về tình mẫu tử thiêng liêng. Tình mẹ được nhà thơ đặt trong tương quan so sánh với hình ảnh cò, cánh cò. “Cò sẽ tìm con”, “cò mãi yêu con” cũng như tấm lòng bao la của mẹ dù con ở đâu, dù là lúc nào, dù con làm gì mẹ vẫn luôn ở cạnh bên và trao cho con tình cảm yêu thương không gì có thể thay thế được. Tình yêu của mẹ như cánh cò chở che cho con trước những khó khăn, giông bão của cuộc đời. Hai câu thơ cuối cùng là lời khái quát vừa sâu sắc, lại vừa chân thành của nhà thơ về triết lý của tình mẫu tử. Đối với mẹ, con lúc nào cũng bé nhỏ và cần được nâng đỡ, chở che. Cuộc sống dù có biến chuyển, đối thay như thế nào thì tình yêu thương của mẹ vẫn nồng ấm, đong đầy, chữa lành những vết thương lòng cho con, nâng bước con trên những chặng đường dài. Đoạn thơ với những phép lặp cấu trúc “dù ở”, hình ảnh “cò” mang tính biểu tượng cao được lặp lại hai lần, cùng với những câu văn có dung lượng ngắn, nhịp thơ nhanh, đã góp phần thể hiện thành công, cảm động triết lý về tình mẫu tử của nhà thơ.

Ý nghĩa – Nhận xét

– Học sinh, qua bài thơ phân tích được ý nghĩa hình tượng con cò, đồng thời liên tưởng, kết nối với các bài ca dao dân ca khác cũng có hình ảnh con cò.

– Từ đó nhận ra được sức mạnh, vẻ đẹp bất diệt, thiêng liêng của tình mẫu tử và ý nghĩa của lời ru đối với cuộc sống con người.

Tham khảo thêm cách soạn khác bài Con cò

Câu 1. Bài thơ phát triển từ một hình tượng bao trùm là hình tượng con cò trong những câu hát ru. Qua hình tượng con cò, tác giả nhằm nói về điều gì?

Trả lời:

Hình tượng bao trùm xuyên suốt bài thơ là hình tượng con cò, con cò trong ca dao, xuất hiện phổ biến với nhiều ý nghĩa khác nhau. Nhưng ý nghĩa phổ biến nhất là hình ảnh người nông dân, người phụ nữ nhiều vất vả, nhọc nhằn nhưng luôn thể hiện được những đức tính tốt đẹp và niềm vui sống.

Câu 2. Bài thơ được tác giả chia làm ba đoạn. Nội dung chính của mỗi đoạn là gì? Ý nghĩa biểu tượng của hình tượng con cò được bổ sung, biến đổi như thế nào qua các đoạn thơ?

Trả lời:

Bài thơ chia làm ba đoạn:

Đoạn 1: Con cò từ trong lời mẹ hát đã đến với tuổi ấu thơ.

Đoạn 2: Con cò vào tiềm thức tuổi nhỏ và sẽ theo con người đi suốt cuộc đời.

Đoạn 3: Ý nghĩa của lời ru và tình mẹ đối với cuộc đời mỗi con người.

Ý nghĩa biểu trưng của con cò có sự phát triển: con cò trong lời ru (đoạn 1) biến thành con cò mang tình cảm của mẹ mãi dõi theo bước chân con (đoạn 2) và trở thành biểu tượng cho lời ru, cho lòng mẹ theo con suốt đời. Con cò trong lời hát trở thành con cò nâng đỡ, dìu dắt con; thành con cò đồng hành với con suốt đời trong một tình yêu thiêng liêng, cao cả.

Câu 3. Trong đoạn đầu bài thơ, những câu ca dao nào đã được vận dụng? Nhận xét về cách vận dụng ca dao của tác giả.

Trả lời:

Trong đoạn đầu bài thơ, những câu ca dao được vận dụng là :

– Con cò bay lả bay la
Bay từ cổng phủ, bay ra cánh đồng
– Con cò bay lả bay la
Bay từ cửa phủ bay về Đồng Đăng
– Con cò mày đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con.

Hình ảnh con cò được gợi ra trực tiếp từ các câu ca dao, tác giả chỉ lấy vài chữ trong mỗi câu ca dao nhằm gợi nhớ chứ không lấy nguyên vẹn. Cách vận dụng ấy ít nhiều thể hiện sự phong phú trong ý nghĩa biểu tượng của “con cò”.

Câu 4. Ở bài thơ này có những câu thơ mang tính khái quát. Ví dụ:

– Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.

– Một con cò thôi,
Con cò mẹ hát
Cũng là cuộc đời
Vỗ cánh qua nôi.

Em hiểu như thế nào về những câu thơ trên?

Trả lời:

Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.

Hình tượng con cò cũng chính là biểu tượng về tình mẹ, về sự dìu dắt, chăm sóc, nâng đỡ đầy dịu dàng của người mẹ. Những câu thơ mang tính khái quát trong bài đều là những câu thơ thể hiện tình yêu thương chứa chan của người mẹ dành cho con của mình. Dù ở đâu, ở bất cứ phương trời nào, dù con còn nhỏ hay đã trưởng thành khôn lớn, thì trong mắt của mẹ con vẫn luôn là đứa con bé bỏng được mẹ che chở và yêu thương.

Một con cò thôi
Con cò mẹ hát
Cũng là cuộc đời
Vỗ cánh qua nôi.

Người mẹ hóa thân vào cánh cò cũng là hóa thân của sự hi sinh, nhọc nhằn của mẹ để nuôi con khôn lớn. Cánh cò vỗ cánh qua nôi cũng như người mẹ đang dang vòng tay của mình để che chở, bảo vệ cho con.

Câu 5. Nhận xét về thể thơ, nhịp điệu, giọng điệu của bài thơ. Các yếu tố ấy có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện tư tưởng, cảm xúc của nhà thơ?

Trả lời:

Chế Lan Viên đã sử dụng thể thơ tự do nhưng các đoạn thường được bắt đầu bằng những câu thơ ngắn, có cấu trúc giống nhau, nhiều chỗ lặp gợi âm điệu lời ru. Giọng thơ suy ngẫm, triết lý. Qua đó, tác giả đã thành công ngợi ca tình mẹ và ý nghĩa lời du với cuộc sống con người.

Soạn phần luyện tập bài Con cò trang 48 – 49 SGK ngữ văn 9 tập 2

Bài 1. Đọc lại bài Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm (Ngữ văn 9, tập một, bài 12). Đối chiếu với bài Con cò và chỉ ra cách vận dụng lời ru của mỗi bài thơ.

Trả lời:

– Hai bài thơ, hai khúc ru nhưng mỗi nhà thơ lại có sự vận dụng khác nhau:

+ Ở Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm, nhà thơ vừa trò chuyện với em bé với giọng điệu gần gũi như lời ru, vừa có lời ru trực tiếp của người mẹ. Trong lời ru của người mẹ không chỉ chứa đựng lời yêu thương đối với con, với bộ đội, làng bản, đất nước mà còn gửi gắm những khát khao, ước vọng qua giấc mơ của con: mong con khỏe mạnh, khôn lớn, thành người lao động giỏi và được sống trong hòa bình, độc lập. Tiết tấu, nhịp điệu bài thơ là sự hòa thanh mới lạ, tạo nên khúc hát ru dịu dàng, đằm thắm, lắng sâu. Bài thơ điệp khúc ba lần nhưng không nhàm nhạt, mà cảm xúc phát triển mở rộng dần theo không gian, theo tình cảm và ước mơ của người mẹ.

+ Trong bài thơ Con cò của Chế Lan Viên, tác giả lại vận dụng và khai thác từ hình ảnh con cò trong ca dao, từ lời hát, lời ru của bà của mẹ bên cánh võng, hình ảnh con cò thành hình tượng người mẹ lam lũ tảo tần. Hình tượng được phát triển qua mỗi đoạn thơ để bộc lộ chủ đề, tư tưởng tác phẩm: ngợi ca tình mẹ và ý nghĩa lời ru đối với mỗi cuộc đời. con người. Có điều trong giọng điệu của bài thơ mang đậm màu sắc triết lí, suy tưởng hơn là lời ru ngọt ngào, tha thiết.

Bên cạnh cái khác biệt có sự đồng điệu:

+ Đồng điệu về hình thức: hai bài thơ đều điệp khúc ba lần, lời ru hầu như được lặp lại vẹn nguyên, vỗ về, êm ái,…

+ Đồng điệu về nội dung, tư tưởng: hai bài thơ đều ngợi ca những người mẹ lam lũ, tảo tần, tấm lòng bao la, hết lòng vì cuộc sống và tương lai hạnh phúc của những đứa con. Đó là truyền thống quý báu của phụ nữ Việt Nam – bà mẹ Việt Nam.

Bài 2. Viết một đoạn bằng những câu thơ sau:

Dù ở gần con,
Dù ở xa con,
Lên rừng xuống bể,
Cò sẽ tìm con,
Cò mãi yêu con.
Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.

Trả lời:

Tình mẹ là tình cảm thiêng liêng và cao quý nhất. Đọc “Con cò” của Chế Lan Viên, tôi thực sự xúc động về tình cảm đó. Tình mẹ ấm áp mà thật bao dung. Từ khi còn tấm bé, nằm nôi cho đến khi con trưởng thành, dang rộng đôi cánh bay khắp bốn phương, mẹ vẫn mãi ở bên cạnh con để che chở, để bảo vệ, để vỗ về con, giúp con có thêm động lực để vượt qua gian khó, có thêm nghị lực để bước đi, để đứng lên sau mỗi vấp ngã. Hình ảnh “con cò” là sự ẩn dụ cho tình mẹ bao la, nhắc nhở rằng: Dù con ở đâu đi chăng nữa, cánh cò – tình mẹ sẽ mãi mãi ở bên con, vĩnh hằng theo thời gian. Con cái cho dù lớn khôn, trưởng thành đi chăng nữa thì trong mắt của người mẹ vẫn mãi nhỏ bé như thuở trong nôi, vẫn luôn sống trong tình yêu thương của mẹ, vẫn cần vòng tay mẹ vỗ về, che chở. Tình yêu của người mẹ mãi còn đó, bất diệt ở bên con.

(BAIVIET.COM)