Soạn bài – Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh (trích Vũ trung tuỷ bút)

Soạn bài Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh (trích Vũ trung tuỷ bút) trang 60 – 64 SGK ngữ văn lớp 9 tập 1. Để học tốt hơn danh sách các bài tập trong bài Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh (trích Vũ trung tuỷ bút), sau đây là hướng dẫn soạn bài và giải bài tập đầy đủ, ngắn gọn và chi tiết nhất.

CHUYỆN CŨ TRONG PHỦ CHÚA TRỊNH

(Trích Vũ trung tuỳ bút(1))

Khoảng năm Giáp Ngọ, Ất Mùi (1774 – 1775), trong nước vô sự, Thịnh Vương (Trịnh Sâm) thích chơi đèn đuốc, thường ngự(2) ở các li cung(3) trên

Tây Hồ, núi Tử Trầm, núi Dũng Thúy. Việc xây dựng đình đài cứ liên miên. Mỗi tháng ba bốn lần, Vương ra cung Thụy Liên trên bờ Tây hồ, binh lính dàn hầu vòng quanh bốn mặt hồ, các nội thần(4) thì đều bịt khăn, mặc áo đàn bà, bày bách hoá chung quanh bờ hồ để bán.

Thuyền ngự đi đến đâu thì các quan hỗ tụng đại thần(5) tùy ý ghé vào bờ mua bán các thứ như ở cửa hàng trong chợ. Cũng có lúc cho bọn nhạc công ngồi trên gác chuông chùa Trấn Quốc(6), hay dưới bóng cây bến đá nào đó, hoà vài khúc nhạc.

Buổi ấy, bao nhiêu những loài trân cầm dị thú(7), cổ mộc quái thạch(8), chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, Chúa đều sức(9) thu lấy, không thiếu một thứ gì. Có khi lấy cả cây đa to, cành lá rườm rà, từ bên bắc chở qua sông đem về. Nó giống như một cây cổ thụ mọc trên đầu non hốc đá, rễ dài đến vài trượng(10), phải một cơ binh(11) mới khiêng nổi, lại bốn người đi kèm, đều cầm gươm, đánh thông la đốc thúc quân lính khiêng đi cho đều tay. Trong phủ, tuỳ chỗ, điểm xuyết bày vẽ ra hình núi non bộ trông như bến bể đầu non. Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻ thức giả(12) biết đó là triệu bất tường(13). Bọn hoạn quan cung giám lại thường nhờ giáo bẻ măng, ra ngoài dọa dẫm. Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh, chim tốt khướu hay, thì biên ngay hai chữ “phụng thủ”(14) vào. Đêm đến, các cậu trèo qua tường thành lẻn ra, sai tay chân đem lính đến lấy phăng đi, rồi buộc cho tội đem giấu vật cung phụng để dọa lấy tiền. Hòn đá hoặc cây cối gì to lớn quá, thậm chí phải phá nhà huỷ tường để khiêng ra. Các nhà giàu bị họ vu cho là giấu vật cung phụng, thường phải bỏ của ra kêu van chí chết, có khi phải đập bỏ núi non bộ, hoặc phá bỏ cây cảnh để tránh khỏi tai vạ. Nhà ta ở phường Hà Khẩu(15), huyện Thọ Xương(16) trước nhà tiền đường(17) có trồng một cây lê, cao vài mươi trượng, lúc nở hoa,, trắng xoá thơm lừng; trước nhà trung đường(18) cũng trồng hai câu lựu trắng, lựu đỏ, lúc ra quả trông rất đẹp, bà cung nhân(19) ta sai chặt đi cũng vì cớ ấy.

(Phạm Đình Hổ(*), Vũ trung tùy bút, bản dịch của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, NXB Văn học, Hà Nội, 1972)

Chú thích:

(*) Phạm Đình Hổ (1768 – 1839) tên chữ là tùng Niên hoặc Bỉnh Trực, hiệu Đông Dã Tiều, tục gọi là Chiêu Hổ, người làng Đan Loan, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương). Ông sống vào thời buổi đất nước loạn lạc nên muốn ẩn cư. Đến thời Minh Mạng nhà Nguyễn, vua vời ông ra làm quan. Ông đã mấy lần từ chức, rồi lại bị triệu ra. Phạm Đình Hổ để lại nhiều công trình biên soạn, khảo cứu có giá trị thuộc đủ các lĩnh vực: văn học, triết học, lịch sử, địa lí,… tất cả đều bằng chữ Hán.

(1) Vũ trung tùy bút (Tùy bút viết trong những ngày mưa) là một tác phẩm đặc sắc của Phạm Đình Hổ, được viết khoảng đầu đời Nguyễn (đầu thế kỉ XIX).

Tác phẩm gồm 88 mẫu chuyện nhỏ, viết theo thể tùy bút, hiểu theo nghĩa là ghi chép tùy hứng, tản mạn, không cần hệ thống, kết cấu gì. Ông bàn về các thứ lễ nghi, phong tục, tập quán,… ghi chép những sự việc xảy ra trong xã hội lúc đó, viết về một số nhân vật, di tích lịch sử, khảo cứu về địa dư, chủ yếu là vùng Hải Dương quê ông. Tất cả những nội dung ấy đều được trình bày một cách giản dị, sinh động và hấp dẫn. Tác phẩm chẳng những có giá trị văn chương đặc sắc mà còn cung cấp những tài liệu quý về sử học, địa lí, xã hội học.

(2) Ngự: tiếng dùng dành riêng cho vua chúa (ví dụ ngự bút là chữ của vua chúa viết, thuyền ngự là thuyền của vua chúa), ở đây có nghĩa là chúa thường đến ở.

(3) Li cung: là chỗ vua chúa ở khi đi ra ngoài kinh thành

(4) Nội thần: các quan hầu cận trong cung vua, phủ chúa, thường là quan hoạn.

(5) Hỗ tụng đại thần: quan đại thần theo hầu và bảo vệ vua, chúa.

(6) Chùa Trấn Quốc: ngôi chùa ở Hồ tây, Hà Nội.

(7) Trân cầm dị thú: chim quý, thú lạ (trân: quý, dị: lạ).

(8) Cổ mọc quái thạch: cây sống lâu năm, phiến đa có hình thù kì lạ.

(9) Sức: lệnh bằng văn bản.

(10) Trượng: đơn vị đo độ dài xưa (khoảng 1,7m).

(11) Cơ binh: đơn vị quân đội thời phong kiến, số quân thường là 10 người, hoặc cũng có thể là từ 200 đến 500 người.

(12) Kẻ thức giả: người có học vấn, có kiến thức.

(13) Triệu bất tường: dấu hiệu không lành, điềm gở.

(14) Phụng thủ: lấy để dâng lên vua chúa

(15) Phường Hà Khẩu: khu vực phố Hàng Buồm, Hà Nội bây giờ.

(16) Huyện Thọ Xương: nay thuộc quân Hoàn Kiếm, Hà Nội.

(17), (18) Nhà tiền đường, nhà trung đường: nhà trước, nhà giữa.

(19) Cung nhân: chỉ chung những người phụ nữ hầu hạ trong cung vua, còn có nghĩa là chức vua phong cho vợ các quan tứ phẩm, ở đây dùng nghĩa thứ hai, chỉ bà mẹ của tác giả.

Hướng dẫn soạn bài – Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh

I. Bố cục:

– Phần 1 (từ đầu đến “biết đó là triệu bất tường”): Cuộc sống xa hoa vô độ trong phủ Chúa.

– Phần 2 (đoạn còn lại): Sự tác oai tác quái, nhũng nhiễu dân chúng của bọn quan lại dưới quyền Chúa.

II. Hướng dẫn soạn bài Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh chi tiết.

Giải câu 1 (Trang 63 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Thói ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnh và các quan lại hầu cận được miêu tả thông qua những chi tiết nào? Hãy nhận xét về lời văn ghi chép sự việc của tác giả. Tại sao kết thúc đoạn văn miêu tả này, tác giả lại nói: “…kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường”?

Trả lời:

Thói ăn chơi xa xỉ, vô độ của chúa Trịnh và các quan lại hầu cận trong phủ được được miêu tả thông quan những cảnh và những việc cụ thể:

– Việc xây dựng đình đài và thú ngao du vô độ

– Miêu tả tỉ mỉ những cuộc bài trí dạo chơi của chúa Trịnh

– Việc thu sản vật, thứ quý; Việc bày vẽ trang trí trong phủ gây phiền nhiễu, tốn kém.

Tác giả kín đáo bộc lộ thái độ chủ quan của mình trước việc ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnh khi miêu tả cảnh vườn trong phủ Chúa: “Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ đổ tan tành, kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường.”. Cảm nhận của tác giả về cái “triệu bất tường” mang ý nghĩa như sự phê phán, cảnh báo về thói ăn chơi, hưởng lạc sa hoa trên mồ hôi, xương máu của nhân dân sẽ dẫn đến cảnh suy tàn, tan vỡ tang thương.

Giải câu 2 (Trang 63 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Bọn quan lại hầu cận trong phủ chúa đã nhũng nhiễu dân bằng những thủ đoạn nào? Tìm hiểu ý nghĩa đoạn văn cuối bài: “Nhà ta ở phường Hà Khẩu… cũng là vì cớ ấy”.

Trả lời:

Bọn quan hầu cận trong phủ chúa tác oai tác quái trong nhân dân. Thủ đoạn của chúng là hành động vừa ăn cắp vừa la làng, người dân như thế là bị cướp của tới hai lần, bằng không thì phải tự tay hủy đi những gì quý giá trong nhà. Đó là điều hết sức vô lí, bất công.

Trong đoạn văn tác giả kể lại một sự việc đã xảy ra ngay tại gia đình mình để tăng sức thuyết phục cho những chi tiết chân thực mà tác giả đã ghi chép ở trên, đồng thời cũng làm cho cách viết phong phú, sinh động. Cảm xúc của tác giả được gửi gắm qua sự việc một cách kín đáo.

Giải câu 3 (Trang 63 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Theo em, thể văn tùy bút trong bài có gì khác so với thể truyện mà các em đã học ở bài trước?

Trả lời:

Sự khác nhau giữa thể tùy bút và truyện là:

– Tuỳ bút là thể văn dùng để ghi chép những con người và sự việc cụ thể, có thực, qua đó người viết chú trọng bộc lộ thái độ, cảm xúc, suy tư, nhận thức đánh giá của mình về con người và cuộc sống. Truyện là thể văn phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời con người.

– Truyện thường phải có cốt truyện và nhân vật; cốt truyện được trình bày có mở đầu, diễn biến, kết thúc; nhân vật được xây dựng có đặc điểm ngoại hình, chi tiết miêu tả nội tâm, diễn biến tâm lí,… Tuỳ bút là sự ghi chép tuỳ hứng, có khi tản mạn, không theo một cốt truyện nào mà chủ yếu nhằm bộc lộ tình cảm, thái độ của tác giả.

Soạn phần luyện tập bài Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh

Giải câu 1 – Luyện tập (Trang 63 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Căn cứ vào bài Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh và cả bài đọc thêm dưới đây, hãy viết một đoạn văn ngắn trình bày những điều em nhận thức được về tình trạng đất nước ta vào thời vua Lê – chúa trịnh cuối thế kỉ XVIII.

Trả lời:

Đất nước ta vào thời vua Lê – chúa Trịnh cuối thế kỉ XVIII rơi vào tình cảnh vô cùng hỗn độn, lũng loạn. Vua chúa thì ăn chơi hưởng lạc, sống cuộc sống xa hoa. Trong phủ Chúa đầy đủ những loại chim quý, thú lạ, cây cổ thụ,… những thứ. Người đứng đầu triều đình không chăm lo triều chính, bỏ mặc nhân dân, bọn quan lại ỷ vào điều đó mà hành động ngang ngược, nhũng nhiễu. Đến cả những nhà giàu cũng không yên với chúng, phải bỏ của ra để thoát tội giấu vật cung phụng do chúng gán cho. Nhà có loài cây nào quý cũng đành phải chặt bỏ. Nhưng chưa hết, thời bấy giờ, cuộc sống của dân đen đói khổ tới mức có cả núi vàng cũng không mua nổi gạo mà ăn. Người không có tiền thì phải bỏ ruộng bỏ vườn, đi bóc vỏ cây, bắt chuột mà ăn. Đương lúc loạn lạc, người ta còn lấy cả thịt người để làm thức ăn đem bán. Thật khốn đốn vô cùng!

Tham khảo thêm cách soạn khác bài Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh

I. Đọc hiểu văn bản

Câu 1. Thói ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnh và các quan lại hầu cận được miêu tả thông qua những chi tiết nào? Hãy nhận xét về lời văn ghi chép sự việc của tác giả. Tại sao kết thúc đoạn văn miêu tả này, tác giả lại nói: “…kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường”?

Trả lời:

* Thói ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnh Sâm và các quan lại hầu cận được miêu tả:

– Chúa cho xây dựng biết bao nhiêu đình đài, ly cung, hao tốn tiền của chỉ nhằm thỏa mãn thói ăn chơi, xa hoa của riêng mình.

– Thú vui dạo chơi trên hồ:

+ Mỗi tháng 3 → 4 lần.

+ Huy động binh lính hầu hạ.

+ Các nghi thức đón rước, tưng bừng đến lố lăng.

– Thú chơi cảnh:

+ Bao nhiêu chân cầm dị thú, cổ mộc quách thạch… thậm chí cả cây đa cổ thụ đều bị chúa thu hết.

+ Phủ chúa bày vẽ ra hình non núi bộ trông như bể bến đầu non…

→ Ăn chơi theo kiểu rùng rợn, bí hiểm, đầy ma quái.

* Tác giả ghi chép một cách cụ thể chân thực, khách quan kín đáo bày tỏ thái độ phê phán thói ăn chơi, xa hoa của nhà chúa.

* Tác giả nói: “…kẻ thức giả biết đó là triệu bất thường” đây là đoạn văn mang tính bình luận gián tiếp đưa ra là lời dự báo sự suy vong tất yếu của vương triều chỉ biết ăn chơi, hưởng lạc trên mồ hôi sương máu của nhân dân.

Câu 2. Bọn quan lại hầu cận trong phủ chúa đã nhũng nhiễu dân bằng những thủ đoạn nào? Tìm hiểu ý nghĩa đoạn văn cuối bài: “Nhà ta ở phường Hà Khẩu… cũng là vì cớ ấy”.

Trả lời:

* Thói tham lam, nhũng nhiễu của bọn quan lại:

– Lợi dụng uy quyền của Chúa, vơ vét của cải trong thiên hạ: dọa dẫm, lấy trộm, vu oan…

→ Thủ đoạn vừa ăn cắp vừa la làng.

⇒ Thói tham lam, lộng hành là bản chất của vương triều nhà Trịnh.

* Ý nghĩa đoạn văn cuối: ” Nhà ta ở phường Hà Khẩu… cũng vì cớ ấy”

– Đây là một chi tiết hiện thực, xảy ra ở chính nhà tác giả.

→ Làm cho sự việc, lời kể thêm khách quan, trung thực.

→ Tác dụng:

+ Tăng nội dung phê phán bộ mặt tham lam, ghê tởm, sự thật thối nát thời vương triều Trịnh Sâm.

+ Kín đáo bày tỏ cảm xúc: căm phẫn trước thói lộng hành của bọn quan lại nhưng chính tác giả cũng bất lực vì chẳng thể làm gì được để giúp dân.

Câu 3. Theo em, thể văn tùy bút trong bài có gì khác so với thể truyện mà các em đã học ở bài trước?

Trả lời:

Tùy bút khác với thể truyện ở việc ghi chép tùy hứng tản mạn không theo một cốt truyện, kết cấu nhằm bộc lộ cảm xúc, thái độ của tác giả trước sự vật, hiện tượng. Còn thể truyện thường có cốt truyện và nhân vật, được xây dựng theo một hệ thống, kết cấu hợp lí (mở đầu, diễn biến, kết thúc…).

Soạn phần luyện tập bài Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh trang 63 SGK ngữ văn 9 tập 1

Câu 1. Căn cứ vào bài Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh và cả bài đọc thêm dưới đây, hãy viết một đoạn văn ngắn trình bày những điều em nhận thức được về tình trạng đất nước ta vào thời vua Lê – chúa trịnh cuối thế kỉ XVIII.

Trả lời:

Qua bài Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh và bài đọc thêm chúng ta có thể thấy rõ thực trạng đất nước ta vào thời vua Lê chúa Trịnh cuối thể kỉ XVIII. Đây là một thời kì lịch sử đen tối của chế độ phong kiến Việt Nam được Phạm Đình Hổ ghi chép mộ cách cụ thể, chân thực. Một giai đoạn lịch sử đen tối, mục nát vua chúa chỉ biết ăn chơi, hưởng lạc bọn quan lại tham lam, nhũng nhiễu và tình cảnh khốn khó của nhân dân bằng cách ghi chép khách quan, trung thực.

Nhận xét – Ý nghĩa

Tác phẩm phản ánh thói xa hoa của vua chúa và sự nhũng nhiễu của bọn quan lại thời Lê – Trịnh qua thể văn tùy bút với cách ghi chép cụ thể, sinh động, khách quan.

(BAIVIET.COM)