Soạn bài – Cảm xúc mùa thu (Thu hứng)

Bài học SGK Progress:

Soạn bài Cảm xúc mùa thu (Thu hứng) trang 145 – 147 SGK ngữ văn lớp 10 tập 1. Để học tốt hơn danh sách các bài tập trong bài Cảm xúc mùa thu (Thu hứng), sau đây là hướng dẫn soạn bài và giải bài tập đầy đủ, ngắn gọn và chi tiết nhất.

CẢM XÚC MÙA THU

(Thu hứng (1))

ĐỖ PHỦ

TIỂU DẪN

Đỗ Phủ (712 – 770) tự là Tử Mĩ, quê ở huyện Củng, tỉnh Hà Nam, xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học và thơ ca lâu đời. Ông sống trong ngheo khổ, chết trong bệnh tật.

Đỗ Phủ là nhà thơ hiện thực vĩ đại của Trung Quốc, là danh nhân văn hóa thế giới. Thơ Đỗ Phủ hiện con khoảng 1500 bài, có nội dung rất phogn phú và sâu sắc. Đó là những bức tranh hiện thực sinh động và chân xác đến mức được gọi là “thi sử” (lịch sử bằng thó); đó cũng là niềm đồng cảm với nhân dân trong khổ nạn, chứa chan tình yêu nước và tinh thận nhân đạo. Giọng thơ Đỗ Phủ trầm uất, nghẹn ngào. Ông sành tất cả các thẻ thơ nhưng đặc biệt thành công ở thể luật thi. Với nhân cách cao thượng, tài năng nghệ thuật trác việt, Đỗ Phủ được người Trung Quốc gọi là “Thi thánh”.

VĂN BẢN

Phiên âm

Ngọc lộ diêu thương phong thụ lâm,
Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm.
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng,
Tái thượng phong vân tiếp địa âm.
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lên,
Hàn y xứ xứ thôi đao xích,
Bạch Đế thanh cao cấp mộ châm.

Dịch nghĩa

Sương móc trắng xóa làm tiêu điều cả rừng cây phong (1),
Núi Vu, kẽm Vu (2) hơi thu hiu hắt.
Giữa lòng sông, sóng vọt lên tân lưng trời,
Trên cửa ải, mây sà xuống giáp mặt đất âm u.
Khóm cúc nở hoa đã hai lân [làm] tuôn rơi nước mắt ngày trước,
Con thuyền lẻ loi buộc mãi tấm lòng nhơ nơi vườn cũ.
Chỗ nào cũng rộn ràng dao thước để may áo rét,
Về chiệu, thành Bạch Đế cao, tiếng chày đập áo (3) nghe càng dồn dập.

Dịch thơ

Lác đác rừng phong hạt móc sa,
Ngàn non hiu hắt, khi thu lòa.
Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm,
Mặt đất mây đùn cửa ải xa.
Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ,
Con thuyền buộc chặt mối tình nhà.
Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước,
Thành Bạch, chay avng bóng ác tà.

Nguyễn Công Trứ dịch (Thơ Đường tập II, Sđd)

CHÚ THÍCH

(1) Cây phong: một lọai cây mùa thu là chuyển sang màu đỏ, nên ở Trung Quốc xưa, “rừng phong nhốm đỏ” thường được dùng để tượng trưng cho mùa thu.

(2) Núi Vu, kẽm Vu (Vu sơn, Vu giáp): hai đại danh thuộc vùng thượng lưu sông Trường Giang vốn rất hùng vĩ hiểm trở, về thu khí trời càng mù tịt.

(3) Tiếng chày đập áo: ở Trung Quốc, vải đẻ may áo rét thường rất dày và cứng, nên người ta phải ngâm nước rồi đặt lên tảng đá (châm), dùng chày đập cho mềm ra mới may được. Mùa thu người ta thường đập vải để may áo chống rét, đặc biệt là để gửi cho người lính trấn thủ ở biên cương. Bởi vậy tiếng chày đập áo (tức đập vải để may áo) trong bóng hoàng hôn cũng là âm thanh đặc trưng của mùa thu và thường gợi nỗi buồn da diết.

Hướng dẫn soạn bài – Cảm xúc mùa thu (Thu hứng)

I. Bố cục:

– Phần 1 (bốn câu thơ đầu): Bức tranh mùa thu tiêu điều, hiu hắt qua cảm nhận của nhà thơ.

– Phần 2 (bốn câu thơ còn lại): Tâm trạng buồn lo của nhà thơ.

II. Hướng dẫn soạn bài Cảm xúc mùa thu (Thu hứng) chi tiết.

Giải câu 1 (Trang 147 SGK ngữ văn 10 tập 1)

Theo anh (chị), bài thơ có thể chia làm mấy phần? Vì sao lại chia như vậy? Hãy xác định nội dung của mỗi phần.

Trả lời:

Có thể chia bài thơ thành hai phần (4 câu trên và 4 câu dưới).

Chia như vậy bởi hai phần này có tính độc lập nhất định (4 câu trên thiên nhiều hơn về tả cảnh, 4 câu dưới lại thiên nhiều hơn về tả tình). Nội dung của bốn câu thơ trên là miêu tả cảnh mùa thu ảm đạm và hiu hắt (cũng có một chút dữ dội nhưng chỉ làm cho cảnh thêm sâu thẳm, hoang vu). Bốn câu thơ ở phần hai lại chủ yếu miêu tả cái tình của nhà thơ: nỗi nhớ quê và nỗi niềm “dân nước”.

Giải câu 2 (Trang 147 SGK ngữ văn 10 tập 1)

Nhận xét sự thay đổi của tầm nhìn từ bốn câu đầu đến bốn câu sau. Vì sao có sự thay đổi ấy?

Trả lời:

Bốn câu thơ đầu là cảnh được nhìn trong tầm bao quát rộng và xa (rừng phong, núi vu, kẽm vu, sóng dợn, mây trùm cửa ải,…). Thế nhưng đến bốn câu sau, không gian bị thu hẹp lại (khóm cúc, con thuyền) rồi gần hơn nữa, nó “lặn” vào tâm hồn của nhà thơ. Sở dĩ có sự vận động của không gian như thế là vì thời gian đang khép lại (chiều dần buông, tầm nhìn bắt đầu thu hẹp). Và thêm nữa để nó phù hợp với sự vận động của tứ thơ (từ cảnh đến tình).

Giải câu 3 (Trang 147 SGK ngữ văn 10 tập 1)

Xác định mối quan hệ giữa bốn câu thơ đầu với bốn câu thơ sau, mối quan hệ giữa toàn bài với nhan đề Thu hứng.

Trả lời:

Mối quan hệ giữa bốn câu thơ đầu với bốn câu thơ cuối là cả hai cùng góp phần tạo nên một bức tranh mùa thu trầm hùng bi tráng, bốn câu thơ đầu miêu tả cảnh thu ở một không gian rộng, bốn câu sau là miêu tả cảnh thu ở một không gian hẹp. Nó cũng thể hiện mối quan hệ trong sự vận hành của tứ thơ là đi từ cảnh đến tình, cảnh khởi sinh tình và tình thấm sâu vào cảnh.

Bài thơ có nhan đề là Thu hứng (cảm xúc mùa thu). Do đó toàn bộ bài thơ, từ hình ảnh đến câu chữ đều chuyển tải tình cảm của thi nhân trước cảnh sắc mùa thu. Bốn câu thơ đầu dù miêu tả cảnh thu nhưng hàm ẩn trong đó là nỗi u uất của lòng thi nhân, bốn câu sau tâm sự của thi nhân lại thấm đẫm vào cảnh, từ tình mà cảm cảnh tạo nên hai hình ảnh gợi buồn đến ám ảnh:

Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ
Con thuyền buộc chặt mối tình nhà.

Soạn phần luyện tập bài Cảm xúc mùa thu (Thu hứng)

Giải câu 1 – Luyện tập (Trang 147 SGK ngữ văn 10 tập 1)

Thử đối chiếu bản dịch thơ của Nguyễn Công Trứ với bản phiên âm và dịch nghĩa

Trả lời:

Đối chiếu bản dịch thơ của Nguyễn Công Trứ với bản phiên âm và phần dịch nghĩa, ta có mấy nhận xét sau:

– Ưu điểm: Bản dịch thơ cơ bản đã thể hiện được khá sắc sảo tinh thần của bài thơ. Bản dịch có thể coi là khá đạt.

– Nhược điểm: Bản dịch còn có một số vênh lệch so với bản phiên âm:

Trong câu đầu, bản dịch thơ chưa chuyển tải được ý nghĩa của từ “điêu thương” – đây là một tính từ đã được động từ hóa (làm tiêu điều). Vì vậy ở trong bản phiên âm nó mang nghĩa rất mạnh – chỉ sự tàn phá khắc nghiệt của sương móc đối với rừng phong.

Chữ “thẳm” trong câu ba (bản dịch) chưa thật sát nghĩa. Đồng thời nó còn làm cho âm hưởng thơ trầm xuống.

Câu 5, bản dịch bỏ mất chữ “lỡng khai” – là một từ quan trọng của bản phiên âm – nhấn mạnh số lần lặp lại. Cũng vậy ở câu 6, chữ “cô” cha dịch được làm cho câu thơ cha thật sự thể hiện được nỗi lòng của kẻ li hương.

Giải câu 2 – Luyện tập (Trang 147 SGK ngữ văn 10 tập 1)

Theo anh (chị) , chữ “lệ” trong câu 5 chỉ nước mắt của nhà thơ hay nước mắt của “khóm cúc”?

Trả lời:

Câu thơ “Tùng cú lưỡng khai tha nhật lệ” (khóm cúc nở hoa đã hai lần (làm) tuôn rơi nước mắt ngày trước) là một câu thơ đa nghĩa, giàu hàm ý. Chữ “lễ” ở trong câu thơ này quả thực rất khó phân biệt đó là “lệ” của người hay “lệ”của hoa. Tuy nhiên có lẽ nên hiểu: mỗi lần nhìn hoa cúc nở, nhà thơ lại chạnh lòng nhớ đến quê hương. Những giọt nước mắt theo đó cũng tự nhiên rơi không sao ngăn lại được. Hình ảnh hoa cúc “nở rồi lại tàn” vừa gợi ra sự trở đi trở lại của nỗi nhớ quê, vừa gợi ra liên tưởng về những dòng lệ chứa chan ân tình của nhà thơ.

Giải câu 3 – Luyện tập (Trang 147 SGK ngữ văn 10 tập 1)

Học thuộc lòng bài thơ (phần phiên âm và dịch thơ).

Trả lời:

Học sinh tự học thuộc lòng

Tham khảo thêm cách soạn khác bài Cảm xúc mùa thu (Thu hứng)

Câu 1. Theo anh (chị), bài thơ có thể chia làm mấy phần? Vì sao lại chia như vậy? Hãy xác định nội dung của mỗi phần.

Trả lời:

– Bài thơ có thể chia làm hai phần, bốn câu thơ đầu và bốn câu thơ cuối. Có thể chia như thế bởi bốn câu thơ đầu và bốn câu thơ cuối tập trung đặc tả hai bức tranh khác nhau: bức tranh ngoại cảnh và bức tranh tâm cảnh.

– Phần 1 (bốn câu thơ đầu) miêu tả bức tranh thiên nhiên mùa thu hiu hắt, đượm buồn.

– Phần 2 (bốn câu thơ còn lại) khắc họa bức tranh nội tâm đầy ưu tư, lo lắng của nhà thơ.

Câu 2. Nhận xét sự thay đổi của tầm nhìn từ bốn câu đầu đến bốn câu sau. Vì sao có sự thay đổi ấy?

Trả lời:

– Ở bốn câu thơ đầu, tầm nhìn của thi nhân hướng ra xa và bao quát không gian rộng lớn, ở bốn câu thơ sau, tầm nhìn thu hẹp lại.

– Sự thay đổi tầm nhìn ấy thuận theo sự chuyển hướng của tâm trạng, ở bốn câu thơ đầu tác giả cảm nhận về ngoại cảnh còn bốn câu thơ sau, tác giả lại biểu đạt nội tâm của chính mình.

Câu 3. Xác định mối quan hệ giữa bốn câu thơ đầu với bốn câu thơ sau, mối quan hệ giữa toàn bài với nhan đề Thu hứng.

Trả lời:

– Bốn câu thơ đầu là điểm tựa cho cảm xúc ở bốn câu thơ sau được bộc lộ.

– Toàn bài thơ là sự diễn giải cho nhan đề Thu hứng. Thu hứng nghĩa là cảm xúc trước cảnh mùa thu, toàn bài thơ chính là những diễn biến của dòng cảm xúc trong khung cảnh mùa thu ấy.

Soạn phần luyện tập bài Cảm xúc mùa thu (Thu hứng) (trang 147 SGK ngữ văn 10 tập 1)

Câu 1. Thử đối chiếu bản dịch thơ của Nguyễn Công Trứ với bản phiên âm và dịch nghĩa

Trả lời:

– Bản dịch thơ của Nguyễn Công Trứ diễn đạt được nội dung khái quát, dòng cảm xúc bao trùm của toàn bài thơ.

– Hai câu thơ đầu:

→ Từ lác đác làm mất đi khung cảnh sương giăng trắng xóa cả cánh rừng như trong nguyên tác và bản dịch.

→ Tác giả Nguyễn Công Trứ khi dịch thơ đã bỏ đi hai địa danh là núi Vu và kẽm Vu.

– Câu thơ “Khóm trúc tuôn thêm dòng lệ cũ”: Tác giả Nguyễn Công Trứ dịch hay hơn cách dịch nghĩa ở bản dịch nghĩa (Khóm cúc nở hoa đã hai lần). Bởi xét theo phép đối của thơ Đường thì từ “lưỡng” trong nguyên tác không nên hiểu là số từ “hai”.

Câu 2. Theo anh (chị) , chữ “lệ” trong câu 5 chỉ nước mắt của nhà thơ hay nước mắt của “khóm cúc”?

Trả lời:

– Chữ “lệ” nhằm diễn tả một cách hình ảnh sự nở hoa của khóm cúc và đó là nước mắt vì thương nhớ, lo lắng cho quê nhà trong khung cảnh loạn li của nhà thơ.

BAIVIET.COM

Bình luận Facebook (Yêu cầu gõ có dấu)

Bình luận