Soạn bài – Các thành phần biệt lập

Soạn bài Các thành phần biệt lập trang 18 – 19 SGK ngữ văn lớp 9 tập 2. Để học tốt hơn danh sách các bài tập trong bài Các thành phần biệt lập, sau đây là hướng dẫn soạn bài và giải bài tập đầy đủ, ngắn gọn và chi tiết nhất.

Hướng dẫn soạn bài – Các thành phần biệt lập.

I. Thành phần tình thái

Đọc các câu sau đây (trích từ truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng) và trả lời câu hỏi.

a) Với lòng mong nhớ của anh, chắc anh nghĩ rằng, con anh sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy cổ anh. (in đậm từ chắc)

b) Anh quay lại nhìn con vừa khe khẽ lắc đầu vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được, nên anh phải cười vậy thôi. (in đậm từ Có lẽ)

Giải câu 1 – Thành phần tình thái (Trang 18 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Các từ ngữ in đậm trong những câu trên thể hiện nhận định của người nói đối với sự việc nêu ở trong câu như thế nào?

Trả lời:

Các từ ngữ in đậm trong những câu trên thể hiện nhận định của người nói đối với sự việc nêu ở trong câu.

(1) – chắc: thể hiện độ tin cậy cao của người nói (người kể chuyện) đối với nội dung được nói đến trong câu (ý nghĩ của nhân vật).

(2) – Có lẽ: cũng thể hiện độ tin cậy cao của người nói (người kể chuyện) đối với nội dung được nói đến trong câu (tâm trạng, cử chỉ của nhân vật), nhưng ở một mức độ không cao như từ chắc.

Giải câu 2 – Thành phần tình thái (Trang 18 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Nếu không có những từ ngữ in đậm nói trên thì nghĩa sự việc của câu chứa chúng có khác đi không? Vì sao?

Trả lời:

Thành phần tình thái không quyết định đến nghĩa sự việc của câu. Cho nên khi bỏ đi các từ ngữ chắc, có lẽ thì nội dung cơ bản của những câu trên không thay đổi.

II. Thành phần cảm thán

Đọc các câu sau đây, chú ý các từ ngữ in đậm và trả lời câu hỏi.

a) Ồ, sao mà độ ấy vui thế. (in đậm từ Ồ)

(Kim Lân, Làng)

b) Trời ơi, chỉ còn có năm phút! (in đậm từ Trời ơi)

(Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa)

Giải câu 1 – Thành phần cảm thán (Trang 18 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Các từ ngữ in đậm trong những câu trên có chỉ sự vật hay sự việc gì không?

Trả lời:

Các từ ngữ Ồ, Trời ơi trong hai câu này không chỉ sự vật hay sự việc cụ thể nào. Đây là thành phần cảm thán, có tác dụng bộc lộ tâm lí của người nói.

Giải câu 2 – Thành phần cảm thán (Trang 18 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Nhờ những từ ngữ nào trong câu mà chúng ta hiểu được tại sao người nói kêu ồ hoặc kêu trời ơi?

Trả lời:

Nhờ những phần tiếp theo của câu mà chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa cảm thán của từng câu, rằng tại sao người nói lại kêu lên ồ và trời ơi.

Giải câu 3 – Thành phần cảm thán (Trang 18 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Các từ ngữ in đậm được dùng để làm gì?

Trả lời:

Các thành phần tình thái và cảm thán không tham gia vào việc diễn đạt nghĩa sự việc của câu cho nên chúng được gọi là thành phần biệt lập.

III. Luyện tập

Giải câu 1 – Luyện tập (Trang 19 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Tìm các thành phần tình thái, cảm thán trong những câu sau đây:

a) Nhưng còn cái này nữa mà ông sợ, có lẽ còn ghê rợn hơn cả những tiếng kia nhiều.

(Kim Lân, Làng)

b) Chao ôi, bắt gặp một con người như anh ta là một cơ hội hãn hữu cho sáng tác, nhưng hoàn thành sáng tác còn là một chặng đường dài.

(Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa).

c) Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăn trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, anh đưa tay vào túi, móc cây lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu.

(Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà)

d) Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình không được đúng lắm. Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được.

(Kim Lân, Làng)

Trả lời:

– Các thành phần tình thái: có lẽ, hình như, chả nhẽ

– Các thành phần cảm thán: chao ôi

Giải câu 2 – Luyện tập (Trang 19 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Hãy xếp những từ ngữ sau đây theo trình tự tăng dần độ tin cậy (hay độ chắc chắn):

chắc là, dường như, chắc chắn, có lẽ, chắc hẳn, hình như, có vẻ như.

(Chú ý: những từ ngữ thể hiện cùng một mức độ tin cậy thì xếp ngang hàng nhau.)

Trả lời:

Có thể có những từ ngữ có mức độ tin cậy (hay chắc chắn) ngang hàng nhau, chỉ khác nhau về thói quen hay hoàn cảnh sử dụng.

– dường như / hình như / có vẻ như – có lẽ – chắc là – chắc hẳn – chắc chắn

Giải câu 3 – Luyện tập (Trang 19 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Hãy cho biết, trong số những từ có thể thay thế cho nhau trong câu say đây, với từ nào người nói phải chịu trách nhiệm cao nhất về độ tin cậy của sự việc do mình nói ra, với từ nào trách nhiệm đó thấp nhất. Tại sao tác giả Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng) lại chọn từ chắc?
Với lòng mong nhớ của anh (1) chắc / (2) hình như / (3) chắc chắn anh nghĩ rằng con anh sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy cổ anh.

Trả lời:

Trong số 3 từ chắc/ hình như/ chắc chắn, với từ chắc chắn, người nói sẽ phải chịu trách nhiệm cao nhất về độ tin cậy của sự việc do mình nói ra; với từ hình như, trách nhiệm về độ tin cậy mà người nói phải chịu thấp nhất. Nhà văn chọn từ chắc là chính xác nhất. Tác giả không chọn từ chắc chắn vì đó mới là dự đoán của nhân vật “tôi” – người ngoài cuộc; nhưng cũng không dùng từ hình như có độ tin cậy thấp, vì nhân vật “tôi” là bạn thân lâu năm của ông Sáu, có thể hiểu rõ được tâm lí của bạn mình.

Giải câu 4 – Luyện tập (Trang 19 SGK ngữ văn 9 tập 2)

Viết một đoạn văn ngắn nói về cảm xúc của em khi được thưởng thức một tác phẩm văn nghệ (truyện, thơ, phim, ảnh, tượng…), trong đoạn văn đó có câu chứa thành phần tình thái hoặc cảm thán.

Trả lời:

Viết một đoạn văn ngắn, có sử dụng câu chứa thành phần cảm thán hoặc tình thái, nói về cảm xúc của em khi được thưởng thức một tác phẩm văn nghệ (truyện, thơ, phim, ảnh, tượng,…).

Đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du, chắc chắn không ai không thương xót cho số phận của nàng Kiều – một người con gái tài hoa bạc mệnh. Có thấu hiểu quãng đời mười lăm năm lưu lạc của nàng thì chúng ta mới thấy hết sự tàn bạo, độc ác của tầng lớp thống trị lúc bấy giờ. Hỡi ôi, một xã hội chỉ biết chạy theo đồng tiền, sẵn sàng chà đạp lên mọi nhân phẩm, giá trị của con người. Đúng là một xã hội bất nhân, thối nát mà Nguyễn Du muốn lột trần bộ mặt thật của nó. Nhưng ở đó, Truyện Kiều cũng là sự bênh vực, xót thương cho số phận nhỏ nhoi bị vùi dập. Chắc hẳn đại thi hào Nguyễn Du phải đau lòng lắm khi viết ra những nỗi đau, sự bất công trong xã hội mà ông đã sống và chứng kiến.

Tham khảo thêm cách soạn khác bài Các thành phần biệt lập

I. Thành phần tình thái

Câu 1. Các từ ngữ in đậm trong những câu trên thể hiện nhận định của người nói đối với sự việc nêu ở trong câu như thế nào?

Trả lời:

chắc: thể hiện độ tin cậy cao của người nói (người kể chuyện) đối với nội dung được nói đến trong câu (ý nghĩ của nhân vật).

Có lẽ: cũng thể hiện độ tin cậy cao của người nói (người kể chuyện) đối với nội dung được nói đến trong câu (tâm trạng, cử chỉ của nhân vật), nhưng ở một mức độ không cao như từ chắc.

Trả lời:

Câu 2. Nếu không có những từ ngữ in đậm nói trên thì nghĩa sự việc của câu chứa chúng có khác đi không? Vì sao?

Khi bỏ đi các từ ngữ chắc, có lẽ thì nội dung cơ bản của những câu trên không thay đổi.

II. Thành phần cảm thán

Câu 1. Các từ ngữ in đậm trong những câu trên có chỉ sự vật hay sự việc gì không?

Trả lời:

Các từ in đậm “Ồ, Trời ơi” trong hai câu này không chỉ sự vật hay sự việc cụ thể nào, chỉ có tác dụng bộc lộ tâm lí của người nói.

Câu 2. Nhờ những từ ngữ nào trong câu mà chúng ta hiểu được tại sao người nói kêu ồ hoặc kêu trời ơi?

Trả lời:

Nhờ những phần tiếp theo của câu mà chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa cảm thán của từng câu, rằng tại sao người nói lại kêu lên ồ và trời ơi.

Câu 3. Các từ ngữ in đậm được dùng để làm gì?

Trả lời:

Các thành phần tình thái và cảm thán không tham gia vào việc diễn đạt nghĩa sự việc của câu cho nên chúng được gọi là thành phần biệt lập.

III. Luyện tập

Câu 1. Tìm các thành phần tình thái, cảm thán trong những câu sau đây:

a) Nhưng còn cái này nữa mà ông sợ, có lẽ còn ghê rợn hơn cả những tiếng kia nhiều.

(Kim Lân, Làng)

b) Chao ôi, bắt gặp một con người như anh ta là một cơ hội hãn hữu cho sáng tác, nhưng hoàn thành sáng tác còn là một chặng đường dài.

(Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa).

c) Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăn trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, anh đưa tay vào túi, móc cây lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu.

(Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà)

d) Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình không được đúng lắm. Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được.

(Kim Lân, Làng)

Trả lời:

a. Có lẽ: thành phần tình thái

b. Chao ôi: thành phần cảm thán

c. Hình như: thành phần tình thái

d. Chả nhẽ: thành phần tình thái

Câu 2. Hãy xếp những từ ngữ sau đây theo trình tự tăng dần độ tin cậy (hay độ chắc chắn):

chắc là, dường như, chắc chắn, có lẽ, chắc hẳn, hình như, có vẻ như.

(Chú ý: những từ ngữ thể hiện cùng một mức độ tin cậy thì xếp ngang hàng nhau.)

Trả lời:

dường như / hình như / có vẻ như – có lẽ – chắc là – chắc hẳn – chắc chắn

Câu 3. Hãy cho biết, trong số những từ có thể thay thế cho nhau trong câu say đây, với từ nào người nói phải chịu trách nhiệm cao nhất về độ tin cậy của sự việc do mình nói ra, với từ nào trách nhiệm đó thấp nhất. Tại sao tác giả Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng) lại chọn từ chắc?
Với lòng mong nhớ của anh (1) chắc / (2) hình như / (3) chắc chắn anh nghĩ rằng con anh sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy cổ anh.

Trả lời:

Với từ chắc chắn: người nói sẽ phải chịu trách nhiệm cao nhất về độ tin cậy của sự việc do mình nói ra; với từ hình như: trách nhiệm về độ tin cậy mà người nói phải chịu thấp nhất. Đây là lời của người kể chuyện nói về suy nghĩ của nhân vật (anh). Cho nên, nếu dùng từ với mức độ tin cậy cao (như chắc chắn) thì sẽ giảm tính khách quan cho lời kể, bởi vì dù sao thì người kể và nhân vật cũng là những chủ thể khác nhau, chỉ có thể khẳng định chắc chắn khi suy nghĩ ấy là của chính mình. Nếu dùng từ hình như thì độ tin cậy không đủ để tạo ra sức thuyết phục cho lời kể, khi đó người kể hoàn toàn tách rời với nhân vật. Nhà văn chọn từ chắc là chính xác nhất.

Câu 4. Viết một đoạn văn ngắn nói về cảm xúc của em khi được thưởng thức một tác phẩm văn nghệ (truyện, thơ, phim, ảnh, tượng…), trong đoạn văn đó có câu chứa thành phần tình thái hoặc cảm thán.

Trả lời:

Ví dụ: tác phẩm “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng

Đọc xong truyện “Chiếc lược ngà” tôi vô cùng xúc động về tình cảm cha con sâu sắc và thiêng liêng của anh Sáu và bé Thu. Chao ôi, tại sao lại có một cô bé gan lì, ương ngạnh đến đáng yêu như thế, vì thấy người đàn ông kia không giống cha ở trong bức ảnh vì vết thẹo dài mà em kiên quyết không nhận, không gọi cha. Tất cả cũng chỉ vì tình yêu đối với cha quá lớn khiến em không thể chấp nhận việc gọi người – em không tin là cha mình một tiếng “cha”. Một anh Sáu thương con, yêu con vô hạn, luôn mang trong mình sự day dứt, tiếc nuối khi không thể ngày ngày ở bên nhìn con khôn lớn. Tình yêu ấy, tuy anh không nói ra thành lời nhưng chúng ta đều hiểu, đều cảm động. Anh dành tất cả tình cảm của mình dồn vào việc làm lược ngà tặng con. Trước lúc hi sinh, nhưng anh đã kịp gửi nó cho con gái mình. Chiếc lược trở thành kỉ vật minh chứng cho tình cha bao la sâu sắc của anh dành cho con.

– Thành phần tình thái: Chao ôi.

(BAIVIET.COM)