Soạn bài – Các phương châm hội thoại (Tiếp theo)

Soạn bài Các phương châm hội thoại (Tiếp theo) trang 21 – 24 SGK ngữ văn lớp 9 tập 1. Để học tốt hơn danh sách các bài tập trong bài Các phương châm hội thoại (Tiếp theo), sau đây là hướng dẫn soạn bài và giải bài tập đầy đủ và chi tiết nhất.

Hướng dẫn soạn bài – Các phương châm hội thoại (Tiếp theo)

I. Phương châm quan hệ

Giải câu hỏi – Phương châm quan hệ (Trang 21 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Trong Tiếng việt có thành ngữ ông nói gà, bà nói vịt. Thành ngữ này dùng để chỉ tình huống hội thoại như thế nào? Thử tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra nếu xuất hiện những tình huống hội thoại như vậy. qua đó có thể rút ra bài học gì trong giao tiếp?

Trả lời:

– Thành ngữ “Ông nói gà, bà nói vịt” chỉ hiện tượng không thống nhất, không hiểu người khác nói gì dẫn đến tình trạng trật khớp, lệch lạc trong giao tiếp.

– Để tránh tình trạng này, khi hội thoại phải nói đúng vào đề tài giao tiếp, nói đúng vào vấn đề cùng quan tâm. Đó chính là phương châm quan hệ trong hội thoại.

II. Phương châm cách thức

Giải câu 1 – Phương châm cách thức (Trang 21 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Trong tiếng Việt có hai thành ngữ như: dây cà ra dây muống, lúng búng như ngậm hột thị. Hai thành ngữ này dùng để chỉ cách nói như thế nào? Những cách nói đó ảnh hưởng đến giao tiếp ra sao? Qua đó có thể rút ra bài học gì trong giao tiếp?

Trả lời:

– Thành ngữ “dây cà ra dây muống”, “lúng búng như ngậm hột thị” chỉ cách nói dài dòng, rườm rà, thiếu mạch lạc và không rõ ràng. Chúng khiến người nghe khó tiếp nhận thông tin.

– Bài học giao tiếp : nói ngắn gọn, rành mạch, tránh mơ hồ.

Giải câu 2 – Phương châm cách thức (Trang 22 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Có thể hiểu câu sau đây theo mấy cách (Chú ý: cách hiểu tùy thuộc vào việc xác định tổ hợp từ của ông ấy bổ nghĩa cho từ ngữ nào.)?

Tôi đồng ý với những nhận định về truyện ngắn của ông ấy.

Để người nghe không hiểu lầm, phải nói như thế nào? Như vậy, trong giao tiếp cần phải tuân thủ những điều gì?

Trả lời:

Tôi đồng ý với những nhận định về truyện ngắn của ông ấy.

– Trong câu trên, cụm từ “ông ấy” có thể được hiểu theo hai cách: nhận định của ông ấy về truyện ngắn hoặc nhận định truyện ngắn của ông ấy viết. Như vậy, nội dung câu nói sẽ trở nên mơ hồ, người nghe khó xác định được chính xác điều người nói muốn nói.

– Để người nghe không hiểu lầm, phải thêm từ ngữ cho cách nói rõ ràng hơn.

Ví dụ:

+ Tôi đồng ý với những nhận định về truyện ngắn mà ông ấy mới sáng tác.

+ Tôi đồng ý với những nhận định về truyện ngắn khá sâu sắc của ông ấy.

-> Như vậy, khi giao tiếp cần phải tránh cách nói mơ hồ, không rõ ràng, dễ gây hiểu lầm

III. Phương châm lịch sự

Giải câu hỏi – Phương châm lịch sự (Trang 22 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Đọc truyện sau và trả lời câu hỏi.

NGƯỜI ĂN XIN

Một người ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi. Ông chìa tay xin tôi.

Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có gì hết. Ông vẫn đợi tôi. Tôi chẳng biết làm thế nà. Bàn tay tôi run run nắm chặt bàn tay run rẩy của ông:

– Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả.

Ông nhìn tôi chăm chăm, đôi môi nở nụ cười:

– Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi.

Khi ấy tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó của ông.

(Theo Tuốc-ghê-nhép)

Vì sao người ăn xin và cậu bé trong truyện đều cảm thấy mình đã nhận được từ người kia một cái gì đó? Có thể rút ra bài học gì từ câu chuyện này?

Trả lời:

Trong mẫu chuyện Người ăn xin, cả hai nhân vật người ăn xin và cậu bé trong câu chuyện đều cảm thấy mình đã nhận được từ người kia một cái gì đó. Nhân vật “tôi” không khinh miệt người nghèo khổ, khốn khó mặc dù không có gì để cho; vì thế ông lão ăn xin cảm thấy mình đã được tôn trọng, cảm thông và cả hai người đều thấy hài lòng.

Có thể rút ra bài học quý từ câu chuyện này là: trong giao tiếp cần tế nhị và tôn trọng người khác.

IV. Luyện tập

Giải câu 1 – Luyện tập (Trang 23 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Trong kho tàng tục ngữ, ca dao Việt Nam có nhiều câu như:

a) Lời chào cao hơn mâm cỗ

b) Lời nói chẳng mất tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.

c) Kim vàng ai nỡ uốn câu,
Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời.

Qua những câu tục ngữ, ca dao đó, cha ông khuyên dạy chúng ta điều gì? Hãy tìm thêm một số câu tục ngữ, ca dao có nội dung tương tự.

Trả lời:

a) Lời chào cao hơn mâm cỗ: thái độ quý mến, lịch sự quan trọng hơn cả giá trị vật chất của mâm cỗ.

b) Lời nói nhã nhặn, lịch sự không tốn kém gì mà hiệu quả lại lớn.

c) Chiếc kim bằng vàng (vật quý) không ai nỡ uốn làm lưỡi câu (vật tầm thường), vậy người khôn ngoan (hiểu biết) không nên nói nặng lời với nhau (không tương xứng với giá trị của mình)

Tất cả các câu tục ngữ trên đều khuyên mọi người khi giao tiếp cần lịch sự, nhã nhặn.

Tham khảo một số câu tục ngữ, ca dao sau:

– Vàng thì thử lửa thử than,
Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời.
– Chẳng được miếng thịt miếng xôi
Cũng được lời nói cho nguôi tấm lòng.
– Chim khôn kêu tiếng rảnh rang,
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.

Giải câu 2 – Luyện tập (Trang 23 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Phép tu từ nào đã học (so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, hoán dụ, điệp ngữ, nói quá, nói giảm nói tránh) có liên quan trực tiếp tới phương châm lịch sự? Cho ví dụ.

Trả lời:

Các biện pháp liên quan trực tiếp đến phương châm lịch sự trong hội thoại là: nói giảm, nói tránh.

Ví dụ: Khi nói một người có ngoại hình xấu, ta nên nói: “Cô ấy không được đẹp lắm.”

Giải câu 3 – Luyện tập (Trang 23 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Chọn từ ngữ thích hợp với mỗi chỗ trống:

a) Nói dịu nhẹ như khen, nhưng thật ra là mỉa mai, chê trách là /…/
b) Nói trước lời mà người khác chưa kịp nói là /…/
c) Nói nhằm châm chọc điều không hay của người khác một cách cố ý là /…/
d) Nói chen vào chuyện của người trên khi không được hỏi đến là /…/
e) Nói rành mạch, cặn kẽ, có trước có sau là /…/

(nói móc, nói ra đầu ra đũa, nói leo, nói mát, nói hớt)

Cho biết mỗi từ trên chỉ cách nói liên quan đến phương châm hội thoại nào.

Trả lời:

a) Nói mát

b) Nói hớt

c) Nói móc

d) Nói leo

e) Nói ra đầu ra đũa

Các từ ngữ này đều chỉ những cách nói liên quan đến phương châm lịch sự và phương châm cách thức.

Giải câu 4 – Luyện tập (Trang 23 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Vận dụng những phương châm hội thoại đã học để giải thích vì sao người nói đôi khi phải dùng những cách nói như:

a) nhân tiện đây xin hỏi;

b) Cực chẳng đã tôi phải nói; tôi nói điều này có gì không phải anh bỏ qua cho; biết là làm anh không vui, nhưng…; xin lỗi, có thể anh không hài lòng nhưng tôi cũng phải thành thực mà nói là…;

c) Đừng nói leo, đừng ngắt lời như thế; đừng nói cái giọng đó với tôi.

Trả lời:

a) Nhân tiện đây xin hỏi: khi người nói muốn hỏi về một vấn đề không đúng đề tài đang trao đổi, tránh người nghe hiểu là mình không tuân thủ phương châm quan hệ.

b) Cực chẳng đã tôi phải nói, tôi nói điều này có gì không phải mong anh bỏ qua; biết là làm anh không vui, nhưng… ; xin lỗi, có thể anh không hài lòng nhưng tôi cũng phải thành thực mà nói… để giảm nhẹ sự đụng chạm, tuân thủ phương châm lịch sự.

c) Đừng nói leo, đừng ngắt lời như thế, đừng nói cái giọng đó với tôi… báo hiệu cho người đối thoại biết là họ không tuân thủ phương châm lịch sự, buộc phải chấm dứt sự không tuân thủ đó.

Giải câu 5 – Luyện tập (Trang 24 SGK ngữ văn 9 tập 1)

Giải thích nghĩa của các thành ngữ sau và cho biết mỗi thành ngữ liên quan đến phương châm hội thoại nào: nói băm nói bổ; nói như đấm vào tai; điều nặng tiếng nhẹ; nửa úp nửa mở; mồm loa mép giải; đánh trống lảng; nói như dùi đục chấm mắm cáy.

Trả lời:

– Giải thích nghĩa của các thành ngữ.

+ Nói băm nói bổ: nói bốp chát, xỉa xói, thô bạo.

+ Nói như đấm vào tai: nói mạnh, trái ý người khác, khó tiếp thu

+ Điều nặng tiếng nhẹ: nói trách móc chỉ chiết

+ Nửa úp nửa mở: thái độ mập mờ, ỡm ờ, không nói hết ý

+ Mồm loa tép nhảy: lắm lời, đanh đá, nói át người khác

+ Đánh trống lảng: lảng ra, né tránh, không muốn vào tham dự một việc nào đó, không muốn đề cập đến một vấn đề nào đó mà người đối thoại đang trao đổi.

+ Đánh trống lảng: lảng ra, né tránh, không muốn vào tham dự một việc nào đó, không muốn đề cập đến một vấn đề nào đó mà người đối thoại đang trao đổi.

– Các phương châm có liên quan trực tiếp:

+ Phương châm lịch sự: nói băm nói bổ; nói như đấm vào tai; điều nặng tiếng nhẹ; mồm loa mép giải; nói như dùi đục chấm mắm cáy

+ Phương châm cách thức: nửa úp nửa mở.

+ Phương châm quan hệ: đánh trống lảng.

Tham khảo thêm cách soạn khác bài Các phương châm hội thoại (Tiếp theo)

I – PHƯƠNG CHÂM QUAN HỆ

Câu hỏi: Trong Tiếng việt có thành ngữ ông nói gà, bà nói vịt. Thành ngữ này dùng để chỉ tình huống hội thoại như thế nào? Thử tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra nếu xuất hiện những tình huống hội thoại như vậy. qua đó có thể rút ra bài học gì trong giao tiếp?

Trả lời:

Thành ngữ Ông nói gà, bà nói vịt chỉ một tình huống hội thoại mà mỗi người nói về một đề tài khác nhau.

Nếu xuất hiện những tình huống như vậy thì người nói và người nghe sẽ không hiểu nhau và cuộc giao tiếp không thực hiện được.

Bài học về giao tiếp: Khi giao tiếp cần nói đúng đề tài giao tiếp, tránh nói lạc đề.

II. PHƯƠNG CHÂM CÁCH THỨC

Câu 1. Trong tiếng Việt có hai thành ngữ như: dây cà ra dây muống, lúng búng như ngậm hột thị. Hai thành ngữ này dùng để chỉ cách nói như thế nào? Những cách nói đó ảnh hưởng đến giao tiếp ra sao? Qua đó có thể rút ra bài học gì trong giao tiếp?

Trả lời:

– Hai thành ngữ chỉ cách nói:

+ Dây cà ra dây muống: nói năng rườm rà, dài dòng.

+ Lúng búng như ngậm hột thị: nói năng ấp úng, không rành mạch, không thoát ý.

– Những cách nói đó không thể hiện được nội dung muốn truyền đạt và khiến người nghe không hiểu.

– Bài học: Khi giao tiếp cần phải nói rõ ràng, rành mạch.

Câu 2. Có thể hiểu câu sau đây theo mấy cách (Chú ý: cách hiểu tùy thuộc vào việc xác định tổ hợp từ của ông ấy bổ nghĩa cho từ ngữ nào.)

Tôi đồng ý với những nhận định về truyện ngắn của ông ấy.

Để người nghe không hiểu lầm, phải nói như thế nào? Như vậy, trong giao tiếp cần phải tuân thủ những điều gì?

Trả lời:

– Tôi đồng ý với những nhận định về truyện ngắn của ông ấy có nhiều cách hiểu như sau:Cụm từ của ông ấy bổ nghĩa cho nhận định nhưng cũng có thể hiểu là cụm từ của ông ấy bổ nghĩa cho truyện ngắn.

– Có thể sửa:

+ Tôi đồng ý với những nhận định của ông ấy về truyện ngắn.

+ Tôi đồng ý với những nhận định đã có về truyện ngắn của ông ấy.

Như vậy, trong giao tiếp, không nên nói những câu mà người nghe cảm thấy mơ hồ, có thể hiểu theo nhiều cách.

III. PHƯƠNG CHÂM LỊCH SỰ

Câu hỏi: Đọc mẩu truyện: Người ăn xin trong SGK trang 22 và trả lời câu hỏi.

Vì sao người ăn xin và cậu bé trong truyện đều cảm thấy mình đã nhận được từ người kia một cái gì đó? Có thể rút ra bài học gì từ câu chuyện này?

Trả lời:

Người ăn xin và cậu bé đều cảm thấy mình đã nhận được từ người kia một cái gì đó bởi: Cậu bé đã dành cho ông một tình cảm chân thành, một sự tôn trọng và cũng nhận được một lời cảm ơn sâu sắc.

Bài học: Khi giao tiếp, người nói và người nghe cần biết tôn trọng nhau.

IV – Soạn phần luyện tập bài Các phương châm hội thoại (Tiếp theo) trang 23 – 24 SGK ngữ văn 9 tập 1

Bài 1. Trong kho tàng tục ngữ, ca dao Việt Nam có nhiều câu như:

a) Lời chào cao hơn mâm cỗ

b) Lời nói chẳng mất tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.

c) Kim vàng ai nỡ uốn câu,
Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời.

Qua những câu tục ngữ, ca dao đó, cha ông khuyên dạy chúng ta điều gì? Hãy tìm thêm một số câu tục ngữ, ca dao có nội dung tương tự.

Trả lời:

Lời khuyên từ các câu tục ngữ :

a) Thái độ tôn trọng, lịch sự còn đáng quý hơn giá trị vật chất.

b) Lời nói phải nhã nhặn, lịch sự, không mất gì mà lại đạt hiệu quả.

c) Những người có học thức, hiểu biết thì không nên nói những lời làm người khác đau lòng.

Một số câu ca dao, tục ngữ tương tự :

– Chim khôn kêu tiếng rảnh rang
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.

– Đất tốt trồng cây rườm rà
Những người thanh lịch nói ra dịu dàng.

– Người thanh nói tiếng cũng thay
Chuông kêu chuông đánh bên thành cũng kêu.

Bài 2. Phép tu từ nào đã học (so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, hoán dụ, điệp ngữ, nói quá, nói giảm nói tránh) có liên quan trực tiếp tới phương châm lịch sự? Cho ví dụ.

Trả lời:

Phép tu từ nói giảm nói tránh có liên quan trực tiếp tới phương châm lịch sự.

Ví dụ:

Bác Dương thôi đã thôi rồi
(Khóc Dương Khuê – Nguyễn Khuyến)

Bài 3. Chọn từ ngữ thích hợp với mỗi chỗ trống:

a) Nói dịu nhẹ như khen, nhưng thật ra là mỉa mai, chê trách là /…/
b) Nói trước lời mà người khác chưa kịp nói là /…/
c) Nói nhằm châm chọc điều không hay của người khác một cách cố ý là /…/
d) Nói chen vào chuyện của người trên khi không được hỏi đến là /…/
e) Nói rành mạch, cặn kẽ, có trước có sau là /…/

(nói móc, nói ra đầu ra đũa, nói leo, nói mát, nói hớt)

Cho biết mỗi từ trên chỉ cách nói liên quan đến phương châm hội thoại nào.

Trả lời:

a) Nói dịu nhẹ như khen, nhưng thật ra là mỉa mai, chê trách là nói mát.

b) Nói trước lời mà người khác chưa kịp nói là nói hớt.

c) Nói nhằm châm chọc điều không hay của người khác một cách cố ý là nói móc.

d) Nói chen vào chuyện của người trên khi không được hỏi đến là nói leo.

e) Nói rành mạch, cặn kẽ, có trước có sau là nói ra đầu ra đũa.

Mỗi từ ngữ trên có liên quan đến phương châm hội thoại lịch sự.

Bài 4. Vận dụng những phương châm hội thoại đã học để giải thích vì sao người nói đôi khi phải dùng những cách nói như:

a) nhân tiện đây xin hỏi;

b) Cực chẳng đã tôi phải nói; tôi nói điều này có gì không phải anh bỏ qua cho; biết là làm anh không vui, nhưng…; xin lỗi, có thể anh không hài lòng nhưng tôi cũng phải thành thực mà nói là…;

c) Đừng nói leo, đừng ngắt lời như thế; đừng nói cái giọng đó với tôi.

Trả lời:

a) Người nói muốn chuyển sang một đề tài khác nhưng không muốn người nghe hiểu lầm mình vi phạm phương châm quan hệ, đồng thời để người nghe chú ý vào vấn đề mình hỏi.

b) Cách diễn đạt này dùng khi nói điều khó nói, dễ gây mất lòng người nghe. Đây là cách nói đảm bảo phương châm lịch sự khi người nói buộc phải nói thẳng vào vấn đề gì đó để người nghe chấp nhận.

c) Đây là cách nói cảnh báo cho người đối thoại biết rằng anh ta không tuân thủ phương châm lịch sự.

Bài 5. Giải thích nghĩa của các thành ngữ sau và cho biết mỗi thành ngữ liên quan đến phương châm hội thoại nào: nói băm nói bổ; nói như đấm vào tai; điều nặng tiếng nhẹ; nửa úp nửa mở; mồm loa mép giải; đánh trống lảng; nói như dùi đục chấm mắm cáy.

Trả lời:

– Nói băm nói bổ: nói thô bạo, thiếu tế nhị (phương châm lịch sự).

– Nói như đấm vào tai: nói thô lỗ, ngang ngạnh, làm cho người nghe khó chịu (phương châm lịch sự).

– Điều nặng tiếng nhẹ: nói nặng lời, trách móc. (phương châm lịch sự).

– Nói úp nói mở: nói mập mờ, không rõ ý, không hết ý, nhằm mục đích thăm dò (phương châm cách thức).

– Mồm loa mép giải: nói lắm điều, nói ngoa ngoa ngắt (phương châm lịch sự).

– Đánh trống lảng: tìm cách chuyển đề tài đang trao đổi sang đề tài khác (phương châm quan hệ).

– Nói như dùi đục chấm mắm cáy: nói thô kệch, vụng về (phương châm lịch sự).

(BAIVIET.COM)