Soạn bài – Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát)

Soạn bài Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Sa hành đoản ca) trang 40 – 42 SGK ngữ văn lớp 11 tập 1. Để học tốt hơn danh sách các bài tập trong bài Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát), sau đây là hướng dẫn soạn bài đầy đủ, ngắn gọn và chi tiết nhất.

BÀI CA NGẮN ĐI TRÊN BÃI CÁT

(Sa hành đoản ca)

CAO BÁ QUÁT

TIỂU DẪN

Cao Bá Quát (1809? – 1855) tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, Mẫn Hiên, người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc quận Long Biên, Hà Nội). Ông đã mất trong cuộc khởi nghĩa chống lại chế độ phong kiến nhà Nguyễn. Cao Bá Quát là một nhà thơ có tài năng và bản lĩnh, được người đương thời tôn là Thánh Quát (“Thần Siêu, Thánh Quát”). Thơ văn ông bộc lộ thái độ phê phán mạnh mẽ chế độ phong kiến trì trệ, bảo thủ và chứa đựng tư tưởng khai sáng có tính chất tự phát, phản ánh nhu cầu đổi mới của xã hội Việt Nam trong giai đoạn giữa thế kỉ XIX. Bài ca ngắn đi trên bãi cát chỉ là một trong khá nhiều sáng tác của Cao Bá Quát thể hiện tâm tư, tình cảm của ông trước thực tế đó.

Cao Bá Quát đỗ cử nhân năm 1831 tại trường thi Hà Nội. Sau đó, ông nhiễu lần vào kinh đô Huế thi Hội nhưng không đỗ. Bài ca ngắn đi trên bãi cát có thể được hình thành trong những lần Cao Bá Quát đi thi Hội, qua các tỉnh miền Trung đầy cát trắng như Quảng Bình, Quảng Trị. Nhà thơ mượn hình ảnh người đi khó nhọc trên bãi cát để hình dung con đường mưu cầu danh lợi đáng chán ghét mà ông buộc phải đeo đuổi cũng như sự bế tắc của xã hội nhà Nguyễn. Bài thơ viết theo thể hành (còn gọi là ca hành). Đây là một thể thơ cổ, có tính chất tự do phóng khoáng, không bị gò bó về số câu, độ dài của câu, niêm luật, bằng trắc, vần điệu.

VĂN BẢN

Phiên âm

Trường sa phục trường sa,

Nhất bộ nhất hồi khước.

Nhật nhập hành vị dĩ,

Khách tử lệ giao lạc.

Quân bất học tiên gia mĩ thụy ông,

Đăng sơn thiệp thuỷ oán hà cùng!

Cổ lai danh lợi nhân,

Bôn tẩu lộ đồ trung.

Phong tiền tửu điếm hữu mĩ tửu,

Tỉnh giả thường thiểu tuý giả đồng.

Trường sa, trường sa nại cừ hà?

Thản lộ mang mang uý lộ đa.

Thính ngã nhất xướng cùng đồ ca,

Bắc sơn chi bắc sơn vạn điệp,

Nam sơn chi nam ba vạn cấp.

Quân hồ vi hồ sa thượng lập?

Dịch nghĩa

Bãi cát dài, lại bãi cát dài,

Đi một bước như lùi một bước.

Mặt trời lặn mà vẫn còn đi.

Khách (trên đường) nước mắt lã chã rơi.

Anh không học được ông tiên có phép ngủ kĩ

Cứ trèo non lội nước mãi, bao giờ cho hết ta oán!

Xưa nay hạng người danh lợi,

Vẫn tất tả ở ngoài đường sá.

(Hễ) quán rượu ở đầu gió có rượu ngon,

(Thì) người tỉnh thường ít mà người say vô số!

Bãi cát dài, bãi cát dài, biết tính sao đây?

Bước đường bằng phẳng thì mờ mịt, bước đường ghê sợ thì nhiều.

Hãy nghe ta hát.khúc “đường cùng”,

Phía bắc núi Bắc núi muôn trùng,

Phía nam núi Nam sóng muôn đợt.

Anh còn đứng làm chi trên bãi cát?

Dịch thơ

Bãi cát lại bãi cát dài,

Đi một bước như lùi một bước.

Mặt trời đã lặn, chưa dừng được,

Lữ khách trên đường nước mắt rơi

Không học được tiên ông phép ngủ,

Trèo non, lộ suối, giận khôn vơi!

Xưa nay, phường danh lợi,

Tất tả trên đường đời.

Đầu gió hơi men thơm quán rượu,

Người say vô số, tỉnh bao người?

Bãi cát dài, bãi cát dài ơi!

Tính sao đay? Đường bằng mờ mịt,

Đường ghê sợ còn nhiều, đâu ít?

Hãy nghe ta hát khúc “đường cùng”,

Phía bắc núi Bắc, núi muôn trùng

Phía nam núi Nam, sóng dào dạt.

Anh đứng làm chi trên bãi cát?

(TỐ HỮU dịch, Cao Bá Quát toàn tập, tập I,

NXB Văn học – Trung tâm Quốc học xuất bản, 2004)

Hướng dẫn soạn bài – Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát)

I. Tác giả

  • Cao Bá Quát (1809- 1854) tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, Mẫn Hiên, người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh( nay thuộc quận Long Biên, Hà Nội).
  • Ông là người có tài năng và bản lĩnh được người đời phong làm Thánh Quát .
  • Ông ra làm quan dưới triều Nguyễn rồi từ quan. Do bất bình với triều đình, năm 1854, Cao Bá Quát tham gia cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình. Cuộc khởi nghĩa thất bại, Cao Bá Quát và dòng họ Cao bị triều đình tàn sát dã man.
  • Thơ văn ông bộc lộ thái độ phê phán mạnh mẽ chế độ phong kiến trì trệ, bảo thủ và chứa đựng tư tưởng khai sáng có tính chất tự phát, phản ánh nhu cầu đổi mới của xã hội Việt Nam trong giai đoạn giữa thế kỉ XIX. Ông để loại khoảng 1353 bài thơ và 21 bài văn chữ Hán. Thơ văn ông thể hiện thái độ phê phán xã hội phong kiến Nguyễn trì trệ, bảo thủ, chứa đựng tư tưởng khai sáng, muốn thay đổi thực tại.

II. Tác phẩm

  • Bài thơ Bài ca ngắn đi trên bãi cát được Cao Bá Quát sáng tác khi đi qua vùng đất đầy cát trắng như Quảng Bình, Quảng Trị để về kinh đô dự thi.
  • Trong bài thơ, tác giả mượn hình ảnh người đi trên bãi cát khó nhọc để hình dung con đường mưu cầu danh lợi đáng ghét mà ông buộc phải theo đuổi, cũng như sự bế tắc của xã hội nhà Nguyễn lúc đó.
  • Thể thơ: thể ca hành, có tính chất tự do, phóng khoáng, không bị gò bó về số câu, độ dài của câu, niêm luật, bằng trắc, vần điệu.

III. Hướng dẫn soạn chi tiết bài Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát)

Giải câu 1 (Trang 42 SGK ngữ văn 11 tập 1)

Phân tích ý nghĩa tượng trưng của các yếu tố tả thực hình ảnh người đi trên bãi cát.

Trả lời:

– Bãi cát dài lại bãi cát dài: mênh mông dường như bất tận, nóng bỏng.

→ Hình ảnh tả thực: đẹp nhưng dữ dội, khắc nghiệt đã gợi ý cho nhà thơ sáng tác bài thơ này.

→ Hình ảnh biểu tượng: con đường đầy khó khăn mà con người phải vượt qua để đi đến danh lợi.

– Hình ảnh người đi trên bãi cát:

+ Đi một bước như luì một bước: nỗi vất vả khó nhọc.

+ Không gian đường xa, bị bao vây bởi núi sông, biển.

+ Thời gian: mặt trời lặn vẫn còn đi.

+ Nước mắt rơi → khó nhọc, gian truân.

=> Mượn hình ảnh con người như bị sa lầy trong những bãi cát dài, để thể hiện nỗi niềm day dứt, đau xót của tác giả đi trên con đường tìm lý tưởng nhưng xã hội bù nhìn không cho ông lối thoát.

Giải câu 2 (Trang 42 SGK ngữ văn 11 tập 1)

Hãy giải thích nội dung và chỉ ra sự liên kết ý nghĩa của sáu câu thơ: “Không học được tiên ông phép ngủ – Trèo non, lội suối, giận khôn vơi! – Xưa nay, phường danh lợi – Tất tả trên đường đời – Đầu gió hơi men thơm quán rượu – Người say vô số, tỉnh bao người?”. (Chú ý: Danh lợi có sức cám dỗ như thế nào?)

Trả lời:

Không học được tiên ông phép ngủ

Trèo non, lội suối, giận khôn vơi!

Xưa nay, phường danh lợi,

Tất cả trên đường đời.

Đầu gió hơi men thơm quán rượu

Người say vô số, tỉnh bao người?

Sáu câu thơ có vẻ rời rạc, không gắn bó với nhau nhưng thực chất là một liên kết logic, chặt chẽ. Danh lợi (việc học hành, thi cử, để đạt tới một vị trí chốn quan trường) chính là khái niệm xâu chuỗi toàn bộ đoạn thơ. Hai câu thơ đầu thể hiện nỗi chán nản của nhà thơ vì tự mình phải hành hạ mình để theo đuổi công danh. Trong khi đó, bốn câu thơ còn lại nói về sự cám dỗ của chuyện công danh đối với người đời. Hình ảnh người đời thấy ở đâu có quán rượu ngon đều đổ xô đến, mấy ai tỉnh táo thoát ra khỏi sự cám dỗ của rượu. Danh lợi cũng dễ làm say người.

=> Sáu câu thơ là bước chuẩn bị cho kết luận của tác giả: cần phải thoát khỏi cơn say danh lợi vô nghĩa.

Giải câu 3 (Trang 42 SGK ngữ văn 11 tập 1)

Tâm trạng của lữ khách khi đi trên bãi cát là gì? Hãy cho biết tầm tư tưởng của Cao Bá Quát thể hiện qua tâm trạng đó.

Trả lời:

Tâm trạng của tác giả khi đi trên bãi cát là trạng chán nản, mệt mỏi rã rời. Tầm tư tưởng cao rộng của nhà thơ chính là ở chỗ đã nhận ra tính chất vô nghĩa của lối học khoa cử, của con đường công danh theo lối cũ.

Người đi trên cát sa lầy trong cát hay chính là hình tượng kẻ sĩ cô độc, lẻ loi đầy trăn trở nhưng kì vĩ, vừa quả quyết vừa tuyệt vọng trên con đường đi tìm chân lí đầy chông gai.

Giải câu 4 (Trang 42 SGK ngữ văn 11 tập 1)

Phân tích ý nghĩa của nhịp điệu bài thơ đối với việc diễn tả cảm xúc và suy tư của nhân vật trữ tình.

Trả lời:

Nhịp điệu của bài thơ được tạo nên chủ yếu nhờ sự thay đổi độ dài của các câu thơ cũng như sự khác nhau trong cách ngắt nhịp của mỗi câu thơ, đem lại khả năng diễn đạt phong phú. Cách ngắt nhịp của bài thơ khá linh hoạt, khi thì là nhịp 2/3, khi lại là 4/3. Câu cuối cùng không có cặp đối, như một câu hỏi buông ra đầy ám ảnh. Nhịp điệu diễn tả sự gập ghềnh, trúc trắc của những người đi trên bãi cát dài, muốn thoát ra khỏi con đường công danh vô nghĩa, tầm thường.

Soạn phần luyện tập bài Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát)

Giải câu hỏi – Luyện tập (Trang 42 SGK ngữ văn 11 tập 1)

Qua bài thơ này, anh (chị) hãy thử lí giải vì sao Cao Bá Quát đã khởi nghĩa chống nhà Nguyễn.

Trả lời:

Bài ca ngắn đi trên bãi cát chỉ là một minh chứng nổi bật trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Cao bá Quát khi nhắc đến chuyện công danh như một nỗi ám ảnh đầy bế tắc. Ví dụ như trong bài Đắc gia thư, thị nhật tác, ông viết:

Dư sinh phù danh ngộ

Thập niên trệ văn mặc

(Đời ta lầm lỡ vì cái danh hờ

Hàng chục năm chìm đắm trong bút mực)

Và còn rất nhiều bài thơ khác, ông tỏ ra chán ghét việc học hành và thi cử văn chương để kiếm danh lợi. Vì vậy, đây là nguyên nhân khiến Cao Bá Quát nhận ra rằng cần phải làm một việc gì đó lớn lao hơn, có ý nghĩa hơn. Đó là lý do dẫn ông đến với cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Nguyễn.

Tham khảo thêm cách soạn khác bài Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát)

Câu 1. Phân tích ý nghĩa tượng trưng của các yếu tố tả thực hình ảnh người đi trên bãi cát.

Trả lời:

Những yếu tố tả thực:

  • Hình ảnh bãi cát được nhắc đi nhắc lại (điệp ngữ), gợi lên một không gian khó khăn, nhọc nhằn. Trên bãi cát ấy là con đường rộng lớn nhưng mờ mịt, không xác định được phương hướng. Đó không phải là con đường thực mà là con đường theo nghĩa tượng trưng. Trên con đường ấy là hình ảnh nhà thơ với giấc mộng danh lợi thôi thúc bước đi.
  • Mờ mịt, núi muôn lớp, sóng muôn đợt, một sa mạc cát mênh mông vô tận, bãi cát lại bãi cát, một người đi đến mặt trời lặn vẫn chưa thôi, vừa đi vừa lệ tuôn đầy.

Từ con đường thực nhiều lần đi qua để về kinh ứng thí, Cao Bá Quát đã sáng tạo thành một con đường đến danh lợi với nhiều khó khăn trong bài thơ. Con đường thực đi trên cát đã thành con đường theo danh lợi trong bài ca. Qua đó cũng thể hiện được nỗi niềm day dứt, đau xót của tác giả đi trên con đường tìm lý tưởng nhưng xã hội bù nhìn không cho ông lối thoát.

Câu 2. Hãy giải thích nội dung và chỉ ra sự liên kết ý nghĩa của sáu câu thơ: “Không học được tiên ông phép ngủ – Trèo non, lội suối, giận khôn vơi! – Xưa nay, phường danh lợi – Tất tả trên đường đời – Đầu gió hơi men thơm quán rượu – Người say vô số, tỉnh bao người?”. (Chú ý: Danh lợi có sức cám dỗ như thế nào?)

Trả lời:

Nhận thức về con đường danh lợi của Cao Bá Quát được thể hiện qua sáu câu thơ:

“Không học được tiên ông phép ngủ

Trèo non, lội suối, giận khôn vơi!

Xưa nay, phường danh lợi

Tất tả trên đường đời

Đầu gió hơi men thơm quán rượu

Người say vô số, tỉnh bao người?”

– Hai câu đầu thể hiện sự chán nản của tác giả vì tự mình phải hành hạ thân xác mình trên con đường theo đuổi công danh.

– Bốn câu tiếp theo, tác giả khái quát sâu sắc con đường danh lợi với sự cám dỗ ghê gớm của cái bả công danh đối với con người. Nhà thơ tự hỏi mình và mọi người rồi tự trả lời bằng hình ảnh nghệ thuật “ người say vô số, tỉnh bao người”.

  • Tác giả đã dùng nhiều đại từ nhân xưng khác nhau để chỉ nhân vật trữ tình của mình qua đó tác giả có thể đặt mình ở nhiều góc nhìn khác nhau để cảm nhận và đồng thời nhà thơ có thể tự đọc thoại hay đối thoại với chính mình. Cao Bá Quát thể hiện được mẫu thuẫn trên con đường đi tìm lý tưởng của mình. Đứng trước hiện thực nghiệt ngã, mù mịt cho thấy diễn biến tâm trạng của nhân vật trữ tình ở đây rất phức tạp, không biết đi đâu về đâu.
  • Các câu cảm thán (Trèo non, lội suối, giận khôn vơi!, Bãi cát dài, bãi cát dài ơi!) câu hỏi tu từ (Người say vô số, tỉnh bao người?, Tính sao đây? Đường bằng mờ mịt,  Đường ghê sợ  còn nhiều, đâu ít?, Anh đứng làm chi trên bãi cát?) thể hiện được tâm trạng bế tắc, băn khoăn, day dứt đến tột cùng của tác giả và khao khát cháy bỏng tìm ra con đường đúng cho mình.
  • Danh lợi có tác dụng cám dỗ ghê gớm mà không ai có thể cưỡng lại được. Tác giả biết là con đường danh lợi rất khó khăn “tất cả”, nhưng cũng phải theo vì hơi men của nó. Chính vì vậy, tác giả là một trong những người say hơi men.

Câu 3. Tâm trạng của lữ khách khi đi trên bãi cát là gì? Hãy cho biết tầm tư tưởng của Cao Bá Quát thể hiện qua tâm trạng đó.

Trả lời:

– Tâm trạng của lữ khách: chán nản (6 câu đầu), bế tắc (4 câu cuối).

– Sự vô nghĩa của chế độ khoa cử làm ông muốn thoát ra khỏi chúng.

– Câu hỏi ở câu thơ cuối: là lời nhắc nhở, thúc giục tìm kiếm lối thoát, tìm kiếm một đường đi mới, thoát khỏi bãi cát dài càng đi càng lún. => Tư tưởng rộng lớn, sâu sắc.

Tâm trạng của tác giả khi đi trên bãi cát là trạng chán nản, mệt mỏi rã rời. Tầm tư tưởng cao rộng của nhà thơ chính là ở chỗ đã nhận ra tính chất vô nghĩa của lối học khoa cử, của con đường công danh theo lối cũ. Từ chỗ đi trên cát mà liên tưởng đến chuyện lợi danh, đến chốn quan trường là một sự liên tưởng sáng tạo mà lôgic. Người đi trên cát sa lầy vào trong cát chẳng khác nào công danh, bổng lộc giống như cái bả lôi kéo con người, làm cho con người mê muội. Khi nhận thức ra con đường danh lợi khó khăn, tác giả như đặt ra cho mình một chọn lựa: phải thoát ra khỏi con đường danh lợi. Tác giả đã nhận ra tính chất vô nghĩa của con đường khoa cử, của con đường công danh theo lối cũ. Tuy tác giả chưa tìm ra cho mình một con đường nào khác, song cũng cho thấy ông không thể bước mãi trên bãi cát đầy khó khăn và vô vị đó.

Câu 4. Phân tích ý nghĩa của nhịp điệu bài thơ đối với việc diễn tả cảm xúc và suy tư của nhân vật trữ tình.

Trả lời:

Nhíp điệu của bài thơ rất độc đáo, những câu thơ năm chữ với nhịp 2/3 mô phỏng bước đi khó nhọc trên bãi cát. Nhịp điệu của bài thơ lúc nhanh, lúc chậm, lúc dàn trải, lúc dứt khoát. Nhịp điệu ấy có ý nghĩa rất lớn trong việc miêu tả bước đi của người đi trên bãi cát, đầy khó khăn, vất vả. Nhịp điệu ấy cũng thể hiện được tâm tư trĩu nặng suy tư của nhà thơ về con đường danh lợi mà nhà thơ đang đi. Những lúc dừng lại suy nghĩ, câu thơ lại kéo dài ra, nhịp thơ cũng biến hóa phù hợp. Từng nhịp điệu của bài thơ chính là tâm trạng khi khó nhọc, khi day dứt, khi đau khổ bước trên con đường của mình.

Soạn phần luyện tập bài Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát) trang 42 SGK ngữ văn 11 tập 1

Câu hỏi: Qua bài thơ này, anh (chị) hãy thử lí giải vì sao Cao Bá Quát đã khởi nghĩa chống nhà Nguyễn.

Trả lời:

Nguyên nhân đầu tiên xuất phát từ bản thân con người Cao Bá Quát. Cao Bá Quát là một người tài năng, học rộng, biết nhiều. Ông muốn mang tài năng và sức lực của mình để đóng góp cho sự phát triền, phồn thịnh của nước nhà. Đó cũng là khao khát cống hiến của hầu hết những người trí thức đương thời trong xã hội. Suy nghĩ ấy xuất phát từ chí nam nhi của người quân tử và lòng yêu nước của người con dân tộc. Bản thân ông đã nhìn thấy sự xuống cấp của chế độ xã hội, sự cũ nát, lạc hậu của những kì thi đã không còn giá trị thực tế nữa nên ông muốn được thay đổi cuộc sống, thay đổi để tạo ra một xã hội mới, nơi mà người tài năng như ông được trọng dụng.

Nguyên nhân thứ hai, xuất phát từ thực trạng của xã hội phong kiến dưới triều Nguyễn. Đây là giai đoạn giữa thế kỉ XIX, khi chế độ phong kiến Việt Nam đang trong giai đoạn khủng hoảng trầm trọng. Vua ăn chơi trác táng, quan lại tham lam vơ vét của dân, xã hội loạn lạc, đồng tiền chi phối tất cả, mua quan bán tước, người nghèo lầm than…Chứng kiến cảnh ấy, người trí thức đầy khao khát thay đổi Cao Bá Quát, đã từng bị cuốn theo vòng danh lợi của những cuộc thi, quyết định từ bỏ triều đình thối nát, đứng lên chống lại cả triều đình, để thay đổi lối sống tiêu cực, tăm tối này.

BAIVIET.COM