Soạn bài – Bài ca Côn Sơn (Côn Sơn ca)

Bài học SGK Progress:

Soạn bài Bài ca Côn Sơn (Côn Sơn ca) trang 78 – 81 SGK ngữ văn lớp 7 tập 1, Để học tốt hơn danh sách các bài tập trong bài Bài ca Côn Sơn (Côn Sơn ca), sau đây là hướng dẫn soạn bài và giải bài tập đầy đủ và chi tiết nhất theo sách giáo khoa.

BÀI CA CÔN SƠN 

(Côn Sơn ca – trích) 

Côn Sơn(1) suối chảy rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm(2) bên tai.

Côn Sơn có đá rêu phơi,

Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm.

Trong ghềnh thông(3) mọc như nêm(4) ,

Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.

Trong rừng có trúc bóng râm(5)

Trong màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.

(Nguyễn Trãi(*), Nguyên văn chữ Hán,

Phan Võ – Lê Thước – Đào Phương Bình dịch,

trong Thơ văn chữ Hán Nguyễn Trãi, NXB Văn hóa, Hà Nội, 1962)

soan bai bai ca con son con son ca sgk ngu van 7 tap 1

Chú thích:

(*) Nguyễn Trãi (1380 – 1442): hiệu là Ức Trai, con của Nguyễn Phi Khanh, quê gốc ở thôn Chi Ngại, xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, sau dời đến làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Ông tham gia khởi nghĩa Lam Sơn với vai trò rất lớn bên cạnh Lê Lợi. Nguyễn Trãi đã trở thành một nhân vật lịch sử lỗi lạc, toàn tài hiếm có. Nhưng cuối cùng ông đã bị giết hại một cách rất oan khốc và thảm thương vào năm 1442. Mãi đến năm 1464, mới được vua Lê Thánh Tông chiêu tuyết (rửa oan). Ông là người Việt Nam đầu tiên được UNESCO (tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc) công nhận là danh nhân văn hóa thế giới (năm 1980).

Nguyễn Trãi để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ và phong phú, trong đó có Bình Ngô đại cáo, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập, Quân trung từ mệnh tập. Bài ca Côn Sơn (Côn Sơn ca) có nhiều khả năng được sáng tác trong thời gian ông bị chèn ép, đành phải cáo quan về sống ở Côn Sơn. Trong nguyên văn chữ Hán, Côn Sơn ca viết theo thể thơ khác nhưng ở đây được dịch bằng thể thơ lục bát. Lục bát nghĩa là sáu tám – tức sau một câu 6 chữ là một câu 8 chữ và không hạn định số câu. Trong thể thơ này, chữ cuối câu 6 vần với chữ thứ sáu của câu 8, chữ cuối câu 8 của cặp câu trên vần với chữ cuối câu 6 của cặp câu dưới và tính chung cứ hai câu thì đổi vần mà vần là vần bằng. Thể lục bát cũng có luật bằng trắc (sẽ học ở bài 13).

(1) Côn Sơn: thuộc thôn Chi Ngại, xã Cộng Hòa, ở phía đông bắc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Nguyễn Trãi đã sống ở đây từ khoảng cuối năm 1437 hay đầu năm 1438 cho đến ngày bị hại (1442), dù là từ năm 1439 đã được vua Lê Thánh Tông xuống chiếu vời ra giữ chức cũ.

(2) Đàn cầm: thứ đàn xưa có 5 dây, về sau thì có 7 dây.

(3) Thông: loại cây có thân thẳng và nhựa thơm, tán lá hình tháp, lá hình kim.

(4) Nêm: chêm hoặc lèn cho chặt (như trong nêm cối, chật như nêm). Ở đây muốn nói thông mọc rậm, dày.

(5) Râm: không có ánh mặt trời chiếu trực tiếp. Trúc bóng râm: trúc rậm, dày tạo nên bóng râm lúc trời nắng.

Hướng dẫn soạn bài – Bài ca Côn Sơn (Côn Sơn ca)

I. Đọc – hiểu văn bản

Giải câu 1 (Trang 80 SGK ngữ văn 7 tập 1)

Em hãy dựa vào lời giới thiệu sơ lược về thể thơ lục bát ở chú thích (*) để nhận dạng thể thơ của đoạn thơ được trích dịch trong Bài ca Côn Sơn về số câu, số chữ trong câu, cách gieo vần.

Trả lời:

Côn Sơn ca được làm bằng thể thơ lục bát, đặc điểm:

– Số câu: không hạn chế, nhưng tối thiểu phải có hai câu, một câu 6 đứng trước và một câu 8 đứng sau.

– Số chữ: một cặp lục bát (6 – 8) có 14 chữ.

– Hiệp vần: vần chân và vần lưng.

+ Chữ thứ 6 của câu sáu hiệp với chữ thứ 6 của câu 8 (vần lưng).

+ Chữ thứ 8 của câu tám hiệp với chữ thứ 6 của câu 6 (vần chân).

– Tất cả những hiệp vần đều thanh bằng.

Giải câu 2 (Trang 80 SGK ngữ văn 7 tập 1)

Em hãy đếm trong đoạn thơ có mấy từ ta và trả lời các câu hỏi:

a) Nhân vật ta là ai?

b) Hình ảnh và tâm hồn của nhân vật ta hiện lên trong đoạn thơ như thế nào?

c) Tiếng suối chảy rì rầm được ví với tiếng đàn cầm. Đá rêu phơi được ví với chiếu êm. Cách ví von đó giúp em cảm nhận được điều gì về nhân vật ta?

Trả lời:

Đoạn thơ có năm từ ta.

a) Nhân vật ta ở đây chính là nhà thơ.

b) Nhân vật ta là một người yêu thiên nhiên, là người có tâm hồn phóng khoáng (ngồi trong bóng trúc xanh mát mà ngâm thơ nhàn). Có thể thấy, trong đoạn thơ, nhân vật ta hiện lên như là một người nghệ sĩ thực sự không vướng một chút bận nào của nhân gian.

c) Tiếng suối chảy đước tác giả ví với tiếng đàn, rêu trên đá được ví với chiếu êm, cách ví von này cho thấy tác giả là người giàu tình cảm với thiên nhiên, coi thiên nhiên như những người ttri kỉ. Cách miêu tả ấy cũng cho thấy đây là một người nghệ sĩ tinh tế, giàu trí tưởng tượng.

Giải câu 3 (Trang 80 SGK ngữ văn 7 tập 1)

Cùng với hình ảnh của nhân vật ta, cảnh tượng Côn Sơn được gợi tả bằng những chi tiết nào? Hãy nhận xét về cảnh tượng Côn Sơn.

Trả lời:

Cảnh tượng Côn Sơn: Có tiếng suối rì rầm, có đá rêu phơi, có thông vi vút, có trúc bóng râm.

Nhận xét: Cảnh Côn Sơn đẹp tựa như tranh, rất nên thơ, hữu tình và khoáng đạt. Cảnh như bao bọc lấy của con người trong sự êm đềm thanh tĩnh của nó.

Giải câu 4* (Trang 80 SGK ngữ văn 7 tập 1)

Em có cảm nghĩ gì về hình ảnh nhân vật ta ngâm thơ nhàn trong màu xanh mát của trúc bóng râm?Từ đó, em thử hình dung thi sĩ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn là con người thế nào.

Trả lời:

Hình ảnh nhân vật ta ngồi ngâm thơ nhàn trong màu xanh mát của tán trúc che ngang, gợi cho ta nghĩ đến hình ảnh một tiên ông nhàn tản, không chút vấn vương thế sự. Đó một thi sĩ đa tình đang thả trọn tâm hồn với thiên nhiên. Thực ra, trong cuộc đời, không kể lúc làm quan mà ngay khi đã về ở ẩn ở Côn Sơn, Nguyễn Trãi vẫn một lòng lo cho nước, cho dân. Thế nhưng có lẽ chính vì thế mà chúng ta càng phải cảm phục vẻ đẹp tài hoa và tâm hồn thi sĩ của ông. Trong muôn vàn vướng bận, Nguyễn Trãi vần dành cho thiên nhiên một tình yêu thật tươi trong và tuyệt đẹp. Đó cũng chính là vẻ đẹp nhất trong tâm hồn cao quý của ông.

Giải câu 5 (Trang 81 SGK ngữ văn 7 tập 1)

Hãy chỉ ra hiện tượng dùng điệp từ trong đoạn thơ và phân tích tác dụng của điệp từ đối với việc tạo nên giọng điệu của đoạn thơ.

Trả lời:

– Điệp từ trong đoạn thơ: Côn Sơn (điệp 2 lần), ta: (điệp 5 lần), trong: (điệp 3 lần), : (điệp 2 lần).

– Tác dụng:

+ Thể hiện sự phong phú đa dạng của cảnh.

+ Niềm say đắm của người ngắm cảnh.

+ Tạo nên tiết tấu nhịp nhàng của bài thơ.

II. Soạn phần luyện tập bài Bài ca Côn Sơn (Côn Sơn ca)

Giải câu 1 – Luyện tập (Trang 81 SGK ngữ văn 7 tập 1)

Cách ví von tiếng suối của Nguyễn Trãi trong hai câu thơ: “Côn Sơn suối chảy rì rầm, ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai” và của Hồ Chí Minh trong câu thơ “Tiếng suối trong như tiếng hát xa” (Cảnh khuya) có gì giống và khác nhau?

Trả lời:

– Giống nhau:

+ Cả hai đều là sản phẩm của tâm hồn thi sĩ, tâm hồn có khả năng hòa nhập với thiên nhiên. Cả Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đều nghe tiếng suối như là một bản nhạc trong trẻo.

+ Đều gợi ra sự tươi vui, ấm áp.

+ Gợi về tình yêu thiên nhiên, con người, niềm tin và sức sống.

– Khác nhau:

+ Nguyễn Trãi: so sánh với tiếng đàn cầm.

+ Hồ Chí Minh: so sánh với tiếng hát của một cô gái: ngân nga.

Giải câu 2 – Luyện tập (Trang 81 SGK ngữ văn 7 tập 1)

Học thuộc lòng đoạn trích Bài ca Côn Sơn.

Trả lời:

Học sinh học thuộc lòng đoạn trích Bài ca Côn Sơn theo cách của mình.

Tham khảo thêm cách soạn khác bài Bài ca Côn Sơn (Côn Sơn ca)

I. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

Câu 1. Em hãy dựa vào lời giới thiệu sơ lược về thể thơ lục bát ở chú thích (*) để nhận dạng thể thơ của đoạn thơ được trích dịch trong Bài ca Côn Sơn về số câu, số chữ trong câu, cách gieo vần.

Trả lời:

Thể thơ của đoạn thơ được trích dịch trong bài Bài ca Côn Sơn là lục bát. Lục bát nghĩa là sáu – tám, tức sau một câu sáu chữ là câu tám chữ. Trong thể thơ này, chữ cuối câu sáu vần với chữ thứ sáu của câu tám, chữ cuối câu tám của cặp câu trền vần với chữ cuối sáu của cặp câu dưới.

Câu 2. Em hãy đếm trong đoạn thơ có mấy từ ta và trả lời các câu hỏi:

a) Nhân vật ta là ai?

b) Hình ảnh và tâm hồn của nhân vật ta hiện lên trong đoạn thơ như thế nào?

c) Tiếng suối chảy rì rầm được ví với tiếng đàn cầm. Đá rêu phơi được ví với chiếu êm. Cách ví von đó giúp em cảm nhận được điều gì về nhân vật ta?

Trả lời:

Trong đoạn thơ có năm từ ta.

a) Nhân vật ta là Nguyễn Trãi thi sĩ.

b) Từ việc nghe tiếng suối mà tưởng như tiếng đàn, ngồi trên đá tưởng như ngồi chiếu êm, nằm dưới bóng mát mà ngâm thơ nhàn. Qua những việc đó, nhân vật ta hiện lên với tư cách một con người thảnh thơi, đang thả mình vào cảnh trí Côn Sơn: một Nguyễn Trãi rất mực thi sĩ.

c) Tiếng suối chảy rì rầm được ví với tiếng đàn cầm. Đá rêu phơi được ví với chiếu êm. Cách ví von đó cho thấy tác giả – nhân vật ta – 1 người rất sành âm nhạc, rất mê âm nhạc và phải thật sự thả hồi hòa mình vào với thiên nhiên, yêu thiên nhiên mới có những cảm nhận như thế được.

Câu 3. Cùng với hình ảnh của nhân vật ta, cảnh tượng Côn Sơn được gợi tả bằng những chi tiết nào?Hãy nhận xét về cảnh tượng Côn Sơn.

Trả lời:

Cùng với hình ảnh của nhân vật ta, cảnh tượng Côn Sơn được miêu với các chi tiết: có suối chảy rì rầm, có bàn đá rêu phơi, có rừng trú: xanh, có bóng mát. Côn Sơn đúng là một cảnh trí thiên nhiên khoáng đạt, thanh tĩnh, một cảnh thần tiên cho thi nhân ngồi ngâm thơ nhàn một cách thú vị.

Câu 4*. Em có cảm nghĩ gì về hình ảnh nhân vật ta ngâm thơ nhàn trong màu xanh mát của trúc bóng râm?Từ đó, em thử hình dung thi sĩ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn là con người thế nào.

Trả lời:

Nhân vật ta ngâm thơ nhàn trong màu xanh mát của bóng trúc râm. hình ảnh đó cho thấy một sự giao hòa tuyệt đối giữa con người với cảnh vật. Từ sự giao hòa đó, gợi cho ta nghĩ đến hình ảnh một ông tiên đang rất nhàn, không chút vấn vương thế sự. Đó là một thi sĩ đa tình đang thả trọn vẹn tâm hồn với thiên nhiên. “Nhàn” chính là tâm trạng của tác giả lúc này.

Ta hình dung được Nguyễn Trãi ở Côn Sơn là con người yêu thiên nhiên dù ở ẩn nhưng ông vẫn luôn lo cho đất nước, cho nhân dân. Ông luôn là người có nhân cách thanh cao, phẩm chất thi sĩ và nghệ sĩ ở ông.

Câu 5. Hãy chỉ ra hiện tượng dùng điệp từ trong đoạn thơ và phân tích tác dụng của điệp từ đối với việc tạo nên giọng điệu của đoạn thơ.

Trả lời:

Điệp từ “ta”, “Côn Sơn”, “trong”…  trong đoạn trích cho thấy Nguyễn Trãi đang sống những ngày tháng an nhàn, ẩn dật ở Côn Sơn bởi Nguyễn Trãi chỉ có “ta nghe, ta ngồi, ta tìm, ta lên, ta nằm và ta ngâm thơ”.

=> Tất cả các điệp ngữ góp phần tích cực làm cho đoạn thơ có giọng điệu nhẹ nhàng, thảnh thơi, êm ái.

II. LUYỆN TẬP

Bài 1. Cách ví von tiếng suối của Nguyễn Trãi trong hai câu thơ: “Côn Sơn suối chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai” và của Hồ Chí Minh trong câu thơ “Tiếng suối trong như tiếng hát xa” (Cảnh khuya) có gì giống và khác nhau?

Trả lời:

So sánh cách ví von tiếng suối của Nguyễn Trãi trong hai câu thơ “Côn Sơn suối chảy rì rầm, ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai” và của Hồ Chí Minh trong câu thơ “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”, ta thấy có những điểm sau:

– Cách ví von đó, cả hai đều là sản phẩm của những tâm hồn thi sĩ, những tâm hồn có khả năng hòa nhập với thiên nhiên.

– Tuy có khác nhau, một ví tiếng suối với tiếng đàn, một ví tiếng suối với tiếng hát, nhưng tiếng đàn hay tiếng hát cũng đều là âm nhạc cả. Cho nên cách đón nhận tiếng suối cả hai xem như giống nhau.

Bài 2. Học thuộc lòng đoạn trích Bài ca Côn Sơn.

Trả lời:

Học sinh học tự thuộc lòng đoạn trích Bài ca Côn Sơn.

 BAIVIET.COM

Soạn bài – Bài ca Côn Sơn (Côn Sơn ca)
5 (100%) 1 Vote
Like
Like Love Haha Wow Sad Angry
1
Back To Top