Bàn luận về phép học (Luận học pháp)

Soạn bài Bàn luận về phép học (Luận học pháp) trang 76 – 79 SGK ngữ văn lớp 8 tập 2. Để học tốt hơn danh sách các bài tập trong bài Bàn luận về phép học (Luận học pháp), sau đây là hướng dẫn soạn bài và giải bài tập đầy đủ, ngắn gọn và chi tiết nhất.

BÀN LUẬN VỀ PHÉP HỌC

(Luận học pháp)

“Ngọc không mài, không thành đồ vật; người không học, không biết rõ đạo”. Đạo là lẽ đối xử hằng ngày giữa mọi người. Kẻ đi học là học điều ấy. Nước Việt ta, từ khi lập quốc đến giờ, nền chính học đã bị thất truyền(1). Người ta đua nhau lối học hình thức hòng cầu danh lợi, không còn biết đến tam cương(2), ngũ thường(3). Chúa tầm thường, thần nịnh hót. Nước mất, nhà tan đều do những điều tệ hại ấy.

Cúi xin từ nay ban chiếu thư cho thầy trò trường học của phủ, huyện, các trường tư, con cháu các nhà văn võ, thuộc lại ở các trấn cựu triều(4), đều tùy đâu tiện đấy mà đi học.

Phép dạy, nhất định theo Chu Tử(5). Lúc đầu học tiểu học để bồi lấy gốc. Tuần tự tiến lên học đến tứ thư(6) , ngũ kinh(7) , chư sử(8) . Học rộng rồi tóm lược cho gọn, theo điều học mà làm. Họa may kẻ nhân tài mới lập được công, nhà nước nhờ thế mà vững yên. Đó mới thực là cái đạo ngày nay có quan hệ tới lòng người. Xin chớ bỏ qua.

Đạo học thành thì người tốt nhiều; người tốt nhiều thì triều đình ngay ngắn mà thiên hạ thịnh trị.

Đó là mấy điều, thành thật xin dâng. Chẳng quản lời nói vu vơ, cúi mong Hoàng thượng soi xét.

Kẻ hèn thần cung kính tấu trình.

(La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp(*), theo La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập II, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998)

Chú thích

(*) Nguyễn Thiếp (1723 – 1804) tự Khải Xuyên, hiệu là Lạp Phong Cư Sĩ, người đương thời kính trọng thường gọi là La Sơn Phu Tử, quê ở làng Mật Thôn, xã Nguyệt Ao, huyện La Sơn (nay thuộc huyện Đức Thọ), tỉnh Hà Tĩnh. Nguyễn Thiếp là người “thiên tư sáng suốt, học rộng hiểu sâu”, từng đỗ đạt, làm quan dưới triều Lê nhưng sau đó từ quan về dạy học. Quang Trung mấy lần viết thư mời ông cộng tác với thái độ rất chân tình nên cuối cùng Nguyễn Thiếp ra giúp triều đình Tây Sơn, góp phần xây dựng đất nước về mặt chính trị. Khi Quang Trung mất, ông lại về ở ẩn cho đến cuối đời mà không hợp tác với nhà Nguyễn.

Bàn luận về phép học là phần trích từ bài tấu của Nguyễn Thiếp gửi vua Quang Trung vào tháng 8 – 1791. Tấu là một loại văn thư của bề tôi, thần dân gửi lên vua chúa để trình bày sự việc, ý kiến, đề nghị (khác với tấu trong nghệ thuật hiện đại là một loại hình kể chuyện, biểu diễn trước công chúng, thường mang yếu tố hài).

Tấu có thể được viết bằng văn xuôi hay văn vần, văn biền ngẫu. Bài tấu của Nguyễn Thiếp gửi vua Quang Trung bàn về ba điều mà theo ông bậc đế vương nên biết: quân đức (đức của vua), dân tâm (lòng dân), học pháp (phép học).

(1) Thất truyền: bị mất đi, không được truyền lại cho đời sau.

(2) Tam cương: ba mối quan hệ gốc trong xã hội phong kiến là quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu phụ (chồng vợ).

(3) Ngũ thường: năm đức tính của con người là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

(4) Cựu triều: triều vua cũ, ở đây chỉ nhà Lê.

(5) Chu Tử: Chu Hi (1130 – 1200), nhà nho nổi tiếng đồng thời là nhà triết học, nhà giáo dục học thời Nam Tống.

(6) Tứ thư: bốn quyển sách tiêu biểu của Nho giáo: Luận ngữ, Mạnh Tử, Đại học, Trung dung.

(7) Ngũ kinh: năm bộ sách kinh điển của Nho giáo: Kinh Dịch , Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu.

(8) Chư sử: các cuốn sách sử có tiếng đời xưa (chư: từ chỉ số nhiều như trong chư vị, chư khách,…)

Hướng dẫn soạn bài – Bàn luận về phép học (Luận học pháp)

I. Tác Giả – Tác Phẩm

1. Tác giả

Nguyễn Thiếp (1723 – 1804) tự là Khải Xuyên, hiệu là Lạp Phong Cư Sĩ, người đương thời kính trọng gọi là La Sơn Phu Tử, quê ở làng Mật Thôn, xã Nguyệt Ao, huyện La Sơn (nay thuộc huyện Đức Thọ), tỉnh Hà Tĩnh.

Nguyễn Thiếp là người “thiên tư sáng suốt, học rộng hiểu sâu”, từng đỗ đạt, làm quan dưới triều Lê nhưng sau đó từ quan về dạy học.

2. Thể loại

Thời xưa, tấu là một loại văn thư của bề tôi, thần dân gửi lên vua chúa để trình bày sự việc, ý kiến, đề nghị.

3. Tác phẩm

Bàn luận về phép học là phần trích từ bài tấu của Nguyễn Thiếp gửi vua Quang Trung vào tháng 8 năm 1791. Văn bản chỉ rõ mục đích của việc học là để làm người có đạo đức, có tri thức, góp phần làm hưng thịnh cho đất nước.

II. Hướng dẫn soạn bài Bàn luận về phép học (Luận học pháp) chi tiết

Giải câu 1 (Trang 78 SGK ngữ văn 8 tập 2)

Phần đầu tác giả nêu khái quát mục đích chân chính của việc học. Mục đích đó là gì?

Trả lời:

Ở đoạn đầu “Ngọc không mài… những điều tệ hại ấy” tác giả nêu rõ mục đích chân chính của việc học:

+ Học để “biết rõ đạo”

+ Học cách làm người, để sống tốt, cư xử đúng mực.

→ Việc học mang ý nghĩa to lớn, cao quý: học để biết cách sống chuẩn mực.

Giải câu 2 (Trang 78 SGK ngữ văn 8 tập 2)

Tác giả đã phê phán những lối học lệch lạc, sai trái nào? Tác hại của lối học ấy là gì?

Trả lời:

Tác giả phê phán những lối học:

+ Học lối học hình thức hòng cầu danh lợi → lối học vì mục đích tầm thường, thực dụng tiến thân- làm quan- cầu danh lợi.

+ Không biết tới tam cương ngũ thường → lối học hình thức, làm mất đi ý nghĩa chân chính của việc học.

+ Tác giả thẳng thắn, trung thực trong lời tâu thực trạng của việc học hình thức, học cầu lợi.

→ Những người theo sự học giả dối nếu làm quan sẽ trở thành “nịnh thần”, trở thành kẻ tham quan, làm cho nước mất nhà tan.

Giải câu 3 (Trang 78 SGK ngữ văn 8 tập 2)

Để khuyến khích việc học, Nguyễn Thiếp khuyên vua Quang Trung thực hiện những chính sách gì?

Trả lời:

Để khuyến khích việc học, Nguyễn Thiếp bàn tới hình thức học và cách học:

+ Mở rộng thêm trường, mở rộng thành phần người học, tạo điều kiện thuận lợi cho người học.

+ Việc học phải được tiến hành tuần tự: bồi lấy gốc → tứ thư ngũ kinh → chư sử.

+ Học rộng rồi tóm lược.

+ Học đi đôi với thực hành.

→ Tầm nhìn chiến lược của bậc trung thần trong vấn đề giáo dục thực học, tạo ra hiền tài cho quốc gia.

Giải câu 4 (Trang 78 SGK ngữ văn 8 tập 2)

Bài tấu có đoạn về “phép học”, đó là những “phép học” nào? Tác dụng và ý nghĩa của những phép học ấy? Từ thực tế việc học của bản thân, em thấy phương pháp học tập nào là tốt nhất? Vì sao?

Trả lời:

Bài tấu bàn về “phép học” đó là những phép học:

– Từ đơn giản đến phức tạp: học bồi lấy gốc

– Từ thấp đến cao: tuần tự tiến lên Tứ thư Ngũ kinh, Chư sử

– Từ lý thuyết đến thực hành: học kết hợp với thực hành

→ Khi thực hiện theo phép học này người học mới có thể “lập công trạng”, lấy những điều học được mang lại cho đất nước sự “vững yên”, “thịnh trị” cho đất nước.

→ Từ việc học của bản thân, em thấy phương pháp học tốt nhất là học từ những thứ cơ bản, rồi tới những điều phức tạp. Học phải kết hợp với thực hành để việc học trở nên nhuần nhuyễn, có ích.

Giải câu 5 (Trang 78 SGK ngữ văn 8 tập 2)

Xác định trình tự lập luận của đoạn văn bằng một sơ đồ.

Trả lời:

Soan bai ban luan ve phep hoc luan hoc phap sgk ngu van 8 tap 2 hinh anh 1

Soạn phần luyện tập bài Bàn luận về phép học (Luận học pháp)

Giải câu 1 – Luyện tập (Trang 79 SGK ngữ văn 8 tập 2)

Phân tích sự cần thiết và tác dụng của phương pháp “học đi đôi với hành”.

Trả lời:

Sự cần thiết và tác dụng của phương pháp “học đi đôi với hành”

Học là quá trình tiếp thu kiến thức và lý thuyết, lý luận. Hành là quá trình áp dụng lý thuyết học được vào thực tiễn đời sống và lao động. Phương pháp “học đi đôi với hành” chính là sự kết hợp hoàn hảo giữa nhận thức và hành động của con người, tạo ra tính thực tiễn, bổ sung lẫn nhau làm cho những điều chúng ta học trở nên có ý nghĩa và kết quả. Nếu chỉ học mà không thực hành sẽ sa vào lý thuyết suông, không thể nắm bắt được ý nghĩa sâu sắc với thực tiễn. Học đi đôi với hành thực sự cần thiết và hữu dụng với tất cả mọi người. Song trên thực tế nước ta, phương pháp này chưa được xem trọng, đó là nguyên nhân làm cho chất lượng giáo dục không được cải thiện. Vì thế cần xác định đúng đắn mục tiêu học tập, và thường xuyên áp dụng phương pháp “học đi đôi với hành” để việc học trở nên ý nghĩa.

Tham khảo thêm cách soạn khác bài Bàn luận về phép học (Luận học pháp)

Câu 1.Phần đầu tác giả nêu khái quát mục đích chân chính của việc học. Mục đích đó là gì?

Trả lời:

Phân tích đoạn mở đầu: nêu mục đích chân chính của việc học. Tác giả dùng câu châm ngôn vừa dẽ hiểu, vừa tăng thêm sức mạnh thuyết phục.

“Ngọc không mài không thành đồ vật, người không học không biết rõ đạo”. Khái niệm “học” được giải thích bằng hình ảnh so sánh cụ thể nên dễ hiểu. Khái niệm “đạo” vốn trừu tượng, phức tạp được giải thích thật ngắn gọn rõ ràng: “Đạo là lối đối xử hàng ngày giữa mọi người”. Như vậy mục đích chân chính của việc học là học để làm người.

Câu 2. Tác giả đã phê phán những lối học lệch lạc, sai trái nào? Tác hại của lối học ấy là gì?

Trả lời:

Sau khi xác định mục đích của việc học, tác giả soi vào thực tế đương thời để phê phán những biểu hiện lệch lạc, sai trái trong việc học. Lối học này gây những tác hại lớn.

Tác hại của lối học lệch lạc, sai trái đó là làm cho “chúa trọng nịnh thần” người trên, kẻ dưới đều thích sự chạy chọt, luồn cúi, không có thực chất, dẫn đến cảnh “nước mất, nhà tan”.

Câu 3. Để khuyến khích việc học, Nguyễn Thiếp khuyên vua Quang Trung thực hiện những chính sách gì?

Trả lời:

Việc học phải được phổ biến rộng khắp: mở thêm trường, mở rộng thành phần người học, tạo điều kiện thuận lợi cho người đi học.

Việc học phải bắt đầu từ những kiến thức cơ bản, có tính chất nền tảng. Phương pháp học học phải:

+ Tuần tự tiến lên, từ thấp đến cao

+ Học rộng, nghĩ sâu, biết tóm lược những điều cơ bản, cốt yếu nhất

+ Học phải biết kết hợp với hành. Học không phải chỉ đế biết mà còn để làm.

Câu 4. Bài tấu có đoạn về “phép học”, đó là những “phép học” nào? Tác dụng và ý nghĩa của những phép học ấy? Từ thực tế việc học của bản thân, em thấy phương pháp học tập nào là tốt nhất? Vì sao?

Trả lời:

Từ đoạn văn của Nguyễn Thiếp rút ra ý nghĩa, tác dụng của việc học chân chính: đất nước nhiều nhân tài, chế độ vững mạnh, quốc gia hưng thịnh.

Câu 5. Xác định trình tự lập luận của đoạn văn bằng một sơ đồ.

Trả lời:

Củng cố bài học bằng sơ đồ lập luận của đoạn văn

Mục đích chân chính của việc học

-> Phê phán những lệch lạc sai trái trong học tập

-> Khẳng định quan điểm phương pháp đúng đắn trong học tập

=> Tác dụng của việc học chân chính

Soạn phần luyện tập bài Bàn luận về phép học (Luận học pháp) trang 76 SGK ngữ văn 8 tập 2

Câu 1. Phân tích sự cần thiết và tác dụng của phương pháp “học đi đôi với hành”.

Trả lời:

Nếu người đi học chỉ biết đến lí thuyết trong sách vở thì chỉ có lí thuyết suông. Phải biết gắn kết kiến thức, lí thuyết trong sách vở vào thực tiễn cuộc sống thì người đi học mới thông hiểu kiến thức, lí thuyết một cách sâu sắc hơn đồng thời biết đem kiến thức, lí thuyết đó ứng dụng vào nhiều việc làm lợi cho cuộc sống.

Ví dụ một người học vi tính mà chỉ học qua sách vở thì suốt đời cũng không thể sử dụng máy tính và tự mình không thể tìm tòi sáng tạo ra nhiều vấn đề mới trong quá trình sử dụng máy.

Một người học về sinh vật mà chỉ ngồi ở thư viện để đọc sách thì chẳng biết chọn giống, lai giống, ghép cây, chữa bệnh cho cây…

Học sinh Việt Nam đi thi các môn như vật lí, hóa học, tin học… thì rất giỏi về lí thuyết nhưng sang khâu thực hành thì thường thua kém các đội bạn vì khi học, chưa đủ điều kiện để thực hành.

Tóm lại học lí thuyết, học kiến thức sách vở cũng là rất cần thiết, là không thể thiếu được vì đó là cái chìa khóa giúp cho mỗi người bước chân vào lâu đài khoa học kĩ thuật nhưng người đi học còn phải biết gắn kiến thức vào đời sống, luôn thực hiện học đi đôi với hành thì mới thực sự có bản lính để tiến lên một cách vững chắc.

(BAIVIET.COM)