Giải câu 1 – Một số thao tác nghị luận cụ thể (Trang 131 SGK ngữ văn 10 tập 2)

Giải câu hỏi 1 – Một số thao tác nghị luận cụ thể (Trang 131 SGK ngữ văn lớp 10 tập 2) – Phần soạn bài Các thao tác nghị luận trang 131 – 135 SGK ngữ văn lớp 10 tập 2.

Đề bài:

Câu 1. Ôn lại các thao tác phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp

a) Hãy nhớ lại các kiến thức đã học ở chương trình Ngữ văn THCS để điền chính xác từng từ phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp vào vị trí thích hợp trong những chỗ trống dưới đây:

– /…/ là kết hợp các phần (bộ phận), các mặt (phương diện), các nhân tố của vấn đề cần bàn luận thành một chỉnh thể thống nhất để xem xét.

– /…/ là chia vấn đề cần bàn luận ra thành các bộ phận (các phương diện, các nhân tố) để có thể xem xét một cách cặn kẽ và kĩ càng.

– /…/ là từ cái riêng suy ra cái chung, từ những sự vật cá biệt suy ra nguyên lí phổ biến.

– /…/ là từ tiền đề chung, có tính phổ biến suy ra những kết luận về những sự vật, hiện tượng riêng.

b) Trong lời tựa Trích diễm thi tập, Hoàng Đức Lương nhận định: “Thơ văn không lưu truyền hết ở đời là vì nhiều lí do”. Tiếp đó, ông lần lượt trình bày bốn lí do khiến thơ văn thời xưa đã không thể truyền lại đầy đủ được. Anh (chị) thấy, ở trường hợp cụ thể này, tác giả đã sử dụng thao tác phân tích hay diễn dịch? Vì sao? Việc dùng phép diễn dịch (hay phân tích) như thế có tác dụng gì?

Dựa vào kết quả tìm hiểu trên, hãy nhận xét và đánh giá về cách sử dụng thao tác nghị luận trong lập luận sau:

“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên.

(Thân Nhân Trung, Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba)

c) Cũng trong lời tựa Trích diễm thi tập, sau khi nêu bốn lí do hạn chế, Hoàng Đức Lương rút ra kết luận: Vậy thì các bản thảo thơ văn cũ mỏng manh kia còn giữ mãi thế nào được mà không rách nát tan tành?

Kết luận này có được là nhờ tác giả đã tổng hợp hay quy nạp? Thao tác tổng hợp (hay quy nạp) đó giúp gì cho quá trình lập luận càng trở nên có sức thuyết phục hơn?

Hãy xét xem, trong đoạn trích sau đây có sử dụng thao tác tổng hợp (hay quy nạp) giống với trường hợp trên không? Vì sao?

Ta thường nghe: Kỉ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than để báo thì cho chủ; Thân Khoái chặt tay cứu nạn cho nước; Kính Đức, một chàng tuổi trẻ, thân phào Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thế Sung; Cảo Khanh, một bề tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ bỏ mình vì nước, đời nào không có?

(Trần Quốc Tuấn, Hịch tướng sĩ)

d) Những nhận định nêu dưới đây đúng hay không đúng? Vì sao?

– Thao tác diễn dịch có khả năng giúp ta rút ra chân lí mới từ các chân lí đã biết.

– Thao tác quy nạp luôn luôn đưa lại cho ta những kết luận chắc chắn và xác thực.

– Tổng hợp không chỉ là thao tác đối lập với thao tác phân tích mà còn là sự tiếp tục và hoàn thành của quá trình phân tích.

Trả lời:

a) Điền từ theo thứ tự sau:

– Tổng hợp

– Phân tích

– Quy nạp

– Diễn dịch

b) Nhận xét và đánh giá:

– Tác giả dùng thao tác phân tích chứ không phải diễn dịch vì tác giả chia vấn đề thành bốn phần, bốn bộ phận khác nhau để xem xét chứ không phải từ một tiền đề chung để suy ra những cái riêng.

– Sử dụng thao tác này có tác dụng chia một nhận định thành các mặt để việc suy xét có tính đa chiều hơn.

– Trong đoạn trích “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, tác giả sử dụng kết hợp thao tác phân tích và diễn dịch vừa để xem xét hai mặt của mối quan hệ giữa hiền tài và đất nước, đồng thời thuyết phục người đọc và đưa ra kết luận: phải coi trọng việc bồi đắp hiền tài.

c)

– Kết luận trong lời tựa Trích diễm thi tập có được là do thao tác tổng hợp. Thao tác này có tác dụng thâu tóm những ý bộ phận thành một kết luận chung khiến kết luận đó càng trở nên có giá trị

– Đoạn trích trong Hịch tướng sĩ sử dụng thao tác quy nạp. Những dẫn chứng đưa ra nhằm chứng minh cho luận điểm “các bậc trung thần nghĩa sĩ bỏ mình vì nước, đời nào không có?”

d)

– Nhận định thứ nhất đúng với điều kiện tiền đề diễn dịch phải chân thực và cách diễn dịch cũng thật chính xác.

– Nhận định thứ hai chưa đúng vì một khi quy nạp chưa đầy đủ ý thì mối liên hệ giữa tiền đề và kết luận chưa chắc chắn.

– Nhận định thứ ba đúng vì phải có quá trình tổng hợp sau khi phân tích thì quá trình phân tích mới có giá trị.

(BAIVIET.COM)